Thử nghiệm công nghệ chế biến sâu đất hiếm
Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trương Việt Dũng đã ký Quyết định số
4657/QĐ-UBND ngày 01/9/2026, cho phép Công ty CP Tư vấn xây dựng và Công nghệ mỏ
thực hiện dự án “Thử nghiệm triển khai sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng
trên 95% ở quy mô bán công nghiệp từ quặng đất hiếm của Việt Nam”.
Theo quyết định, thời gian thử nghiệm là 18 tháng kể từ ngày quyết định có
hiệu lực. Dây chuyền có công suất thiết kế 100 kg quặng nguyên khai/giờ, với tổng
khối lượng quặng được sử dụng tối đa 100 tấn, có nguồn gốc từ mỏ Đông Pao, tỉnh
Lai Châu.
Công nghệ được thử nghiệm theo Bằng độc quyền sáng chế số 33663, gồm hai
công đoạn chính là tuyển nổi làm giàu tinh quặng và thủy luyện sản xuất tổng
oxit đất hiếm.
Dây chuyền được thiết kế tích hợp, liên hoàn và vận hành theo mô hình khép
kín nhằm kiểm soát dòng vật chất, các thông số kỹ thuật, môi trường và an toàn
trong quá trình vận hành.
Mục tiêu trọng tâm của dự án là kiểm chứng mức độ ổn định, hiệu quả vận
hành của công nghệ sản xuất TREO hàm lượng trên 95% ở quy mô bán công nghiệp; đồng
thời đánh giá khả năng mở rộng và triển khai công nghệ ở quy mô công nghiệp.
Quá trình thử nghiệm cũng nhằm xác định các thông số công nghệ, mức tiêu
hao nguyên liệu, hóa chất và năng lượng, qua đó giảm rủi ro khi thiết kế và đầu
tư mở rộng dây chuyền sau này. Kết quả là cơ sở để hoàn thiện quy trình công
nghệ, đồng thời phục vụ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh
tế - kỹ thuật và quy định quản lý đối với hoạt động chế biến sâu đất hiếm.
Chú trọng tuần hoàn tài nguyên và kiểm soát môi
trường
Một điểm đáng chú ý của dự án là công nghệ thử nghiệm áp dụng giải pháp tuần
hoàn nước trong công đoạn thủy luyện, đồng thời hướng tới thu hồi các sản phẩm,
phụ phẩm có giá trị như barit, fluorit và natri hexafluorosilicat (Na₂SiF₆). Giải
pháp này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và hạn chế phát sinh chất
thải trong quá trình chế biến.
Toàn bộ quá trình thử nghiệm được giám sát thông qua hệ thống camera và bộ
KPI gồm 33 chỉ tiêu về kỹ thuật, môi trường và an toàn bức xạ. Doanh nghiệp phải
thực hiện các yêu cầu về quản lý chất thải chứa vật liệu phóng xạ tự nhiên
(NORM), an toàn bức xạ và tẩy xạ theo quy định.
Ngoài ra, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho phép tạm thời không áp dụng một
số trình tự, thủ tục pháp lý chuyên ngành vốn dành cho cơ sở chế biến khoáng sản
quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, việc miễn hoặc tạm thời không áp dụng một số thủ
tục hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi, quy mô, địa điểm và thời gian thử
nghiệm được chấp thuận, không đồng nghĩa với việc miễn các yêu cầu về an toàn,
môi trường và chất lượng công trình.
Kiểm soát chặt các hạng mục xây dựng
Đối với lĩnh vực xây dựng, quyết định cho phép dự án tạm thời không áp dụng
trình tự, thủ tục cấp giấy phép xây dựng đối với các hạng mục cải tạo, lắp đặt
và xây dựng phục vụ trực tiếp hoạt động thử nghiệm trong phạm vi được phê duyệt.
Quy định này không làm thay đổi trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo
đảm chất lượng công trình, an toàn chịu lực, an toàn lao động, phòng cháy, chữa
cháy, bảo vệ môi trường và tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật có liên
quan.
Ở góc độ phát triển công nghiệp vật liệu và khai khoáng, việc đưa công nghệ
chế biến sâu đất hiếm vào thử nghiệm ở quy mô bán công nghiệp có ý nghĩa ở khả
năng kiểm chứng công nghệ trước khi mở rộng đầu tư, đồng thời đánh giá hiệu quả
sử dụng tài nguyên, năng lượng và hóa chất. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp
với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng của khoáng sản trong nước thay vì chỉ dừng
ở khai thác và cung cấp nguyên liệu.
Đất hiếm được đánh giá có vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghiệp
giá trị cao. Lai Châu hiện là địa bàn có tiềm năng lớn về tài nguyên đất hiếm,
trong đó Đông Pao là mỏ được quan tâm trong định hướng khai thác, chế biến
khoáng sản của Việt Nam. Bộ Công Thương từng xác định yêu cầu phát triển công
nghệ khai thác, chế biến đất hiếm theo hướng nâng cao hiệu quả tài nguyên và giảm
tác động môi trường.
Việc thử nghiệm trong 18 tháng vì vậy không chỉ nhằm đánh giá một dây chuyền
công nghệ cụ thể, mà còn có thể tạo thêm dữ liệu thực tế cho quá trình hoàn thiện
khung kỹ thuật, môi trường và quản lý đối với hoạt động chế biến sâu đất hiếm
trong nước.
TCXD
