Thành phố đang tính toán phương án bố trí các khu vực tiếp nhận tập trung, đồng thời nghiên cứu khả năng tái sử dụng nguồn vật liệu này.
17,2 triệu m³ bùn, đất chưa có nơi tiếp nhận
Theo báo cáo của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ
tầng đô thị TP.HCM gửi UBND TP và Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong giai đoạn
2026-2030, Ban được giao làm chủ đầu tư 55 dự án thuộc các lĩnh vực hạ tầng kỹ
thuật, môi trường và thủy lợi.

Khối lượng bùn đất khổng lồ tại các dự án hạ tầng của
TP.HCM.
Tổng khối lượng bùn, đất phát sinh từ hoạt động thi
công, đào đất và nạo vét tại các dự án này dự kiến khoảng 17,2 triệu m³, gồm
khoảng 8,8 triệu m³ đất đào và 8,4 triệu m³ bùn nạo vét.
Đáng chú ý, 4 dự án trọng điểm đang triển khai gồm nạo
vét trục thoát nước rạch Xóm Củi; xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường kênh
Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên; nạo vét, cải tạo môi trường, xây dựng hạ
tầng rạch Xuyên Tâm và nạo vét, xây dựng hạ tầng, cải tạo kênh Đôi đều đang gặp
khó trong việc xác định vị trí tiếp nhận bùn, đất phát sinh.
Trong đó, 4 dự án trọng điểm này dự kiến phát sinh khoảng
12,49 triệu m³ đất, bùn; các dự án đang thi công trong nhóm này phát sinh khoảng
5,95 triệu m³.
Thực tế này đang tạo thêm áp lực cho tiến độ các dự án
hạ tầng vốn có quy mô lớn và được thành phố kỳ vọng góp phần giải quyết ngập nước,
cải thiện môi trường, chỉnh trang đô thị và tăng khả năng kết nối giao thông.
Tại họp báo cung cấp thông tin về tình hình kinh tế -
xã hội TP.HCM ngày 13/8, Phó giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng
đô thị Nguyễn Hoàng Anh Dũng cho biết hiện thành phố chưa có danh mục các vị
trí dự trữ để tiếp nhận bùn nạo vét. Khi từng dự án phát sinh nhu cầu, chủ đầu
tư phải làm việc với địa phương có nhu cầu sử dụng đất, xác định khu vực tiếp
nhận rồi trình cấp có thẩm quyền xem xét, chấp thuận.
Theo ông Dũng, lượng bùn được đề cập trong các dự án
nêu trên không phải bùn ô nhiễm; đối với bùn ô nhiễm, việc xử lý sẽ phải thực
hiện theo đúng quy trình.
Đề nghị sớm bố trí các vị trí tiếp nhận
Ban Quản lý dự án cũng đề xuất thành phố chuyển từ
cách xử lý theo từng dự án sang chủ động xác định, bố trí các khu vực có khả
năng tiếp nhận bùn, đất.
Do đó, Ban kiến nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường sớm
xem xét, tham mưu UBND Thành phố phương án chấp thuận các vị trí bãi đổ bùn, đất
phát sinh từ các dự án. Đồng thời, việc xác định các khu vực có nhu cầu đất san
lấp, có khả năng tiếp nhận vật liệu phát sinh từ các dự án sẽ giúp chủ đầu tư
chủ động hơn trong tổ chức thi công.

Công nhân thi công dự án nạo vét rạch Đá Đỏ.
Ban Quản lý dự án cũng kiến nghị UBND TP.HCM sớm công
bố danh mục các địa điểm có nhu cầu sử dụng đất san lấp. Theo đơn vị này, nếu
có những vị trí phù hợp, nằm gần công trường, không chỉ giải quyết được bài
toán nơi tiếp nhận mà còn giảm đáng kể chi phí vận chuyển.
Đây cũng là hướng được đề cập trong thông tin tại họp
báo ngày 13/8: Sở Nông nghiệp và Môi trường được đề nghị tham mưu UBND TP sớm bố
trí các vị trí tiếp nhận, xử lý bùn, đất phát sinh, đồng thời hướng dẫn phương
án xử lý phù hợp.
Vấn đề này không mới đối với các dự án nạo vét, chỉnh
trang kênh rạch của TP.HCM. Trước đây, trong quá trình triển khai dự án kênh
Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên, chủ đầu tư cũng từng kiến nghị Sở Tài
nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tham mưu UBND TP chấp
thuận bãi đổ bùn, đất nạo vét để có cơ sở pháp lý triển khai các hạng mục.
Từ thực tế trên, việc hình thành một cơ chế quản lý và
danh mục các khu vực tiếp nhận bùn, đất phù hợp có ý nghĩa quan trọng khi
TP.HCM đang đồng thời triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn.
Đặc biệt, lượng bùn, đất phát sinh không chỉ đến từ 55
dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị làm chủ đầu tư mà còn
từ nhiều công trình hạ tầng khác và hoạt động nạo vét của các địa phương. Vì vậy,
bài toán cần được nhìn nhận ở quy mô toàn thành phố thay vì xử lý riêng lẻ theo
từng công trình.

Bùn đất từ dự án nạo vét, thi công hạ tầng thường
không ô nhiễm phát sinh từ nhiều dự án trên địa bàn TP.HCM.
Theo ông Bùi Hòa An, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM,
thiếu bãi tiếp nhận bùn là một trong những vướng mắc lớn đối với các dự án hạ tầng.
Từ kinh nghiệm nhiều năm phụ trách lĩnh vực đường thủy,
ông An cho biết trước đây ngành giao thông thành phố từng đề xuất xây dựng hai
bãi tiếp nhận tập trung trên bờ, mỗi bãi có quy mô khoảng 50 ha.
Một bãi được tính toán bố trí ở khu vực phía Bắc, có
thể thuộc Củ Chi, Hóc Môn hoặc khu vực quận 12 cũ; bãi còn lại ở phía Nam, gồm
các khu vực Nhà Bè, Bình Chánh hoặc Cần Giờ cũ.
Điểm đáng chú ý của phương án này là các bãi không chỉ
được xem như nơi "đổ bùn", mà được định hướng trở thành đầu mối tiếp
nhận, tập kết và phân phối lại đất, bùn không ô nhiễm phát sinh từ nhiều dự án
trên địa bàn.
Theo ông An, sau khi tập kết, vật liệu có thể được đưa
đến những nơi có nhu cầu san lấp, bồi đắp, trồng cây hoặc nghiên cứu sử dụng để
sản xuất gạch không nung, bê tông mác thấp.
Mô hình này, nếu được triển khai, sẽ thay đổi cách tiếp
cận đối với bùn, đất phát sinh từ các công trình. Thay vì mỗi dự án phải tự tìm
một địa điểm tiếp nhận, thành phố có thể hình thành những đầu mối tập trung,
qua đó chủ động cân đối nguồn phát sinh và nhu cầu sử dụng.
Ông An cho rằng các bãi tập trung sẽ giúp dự án xác định
được đầu ra của bùn, đất ngay từ khâu chuẩn bị. Đây cũng là cơ sở để chủ đầu tư
chủ động phương án thi công, vận chuyển và dự toán chi phí. Tuy nhiên, phương
án này chưa thể triển khai do khó tìm quỹ đất phù hợp.
Cần tính đến khả năng tái sử dụng
Một vấn đề khác được đặt ra là cần phân loại rõ đất
đào, bùn nạo vét và chất lượng vật liệu trước khi quyết định phương án tiếp nhận.

Công đoạn nạo vét bùn đất trong quá trình thi công các
dự án hạ tầng tại TP.HCM.
Với đất, bùn đáp ứng yêu cầu, việc tìm kiếm các công
trình, khu vực có nhu cầu san lấp có thể tạo ra hướng tái sử dụng thay vì coi
toàn bộ khối lượng phát sinh là chất thải phải đưa đi đổ. Cách tiếp cận này vừa
giảm nhu cầu bố trí bãi chứa mới, vừa có thể giảm quãng đường và chi phí vận
chuyển.
Trong khi đó, đối với bùn có dấu hiệu ô nhiễm, cần thực
hiện kiểm tra, phân loại và xử lý theo quy định, không thể đưa vào các khu vực
tiếp nhận đất san lấp thông thường. Chính đại diện Ban Quản lý dự án cũng khẳng
định bùn phát sinh trong các dự án đang đề cập không ô nhiễm; trường hợp bùn ô
nhiễm sẽ được xử lý theo đúng quy trình.
Với TP.HCM, bài toán này càng trở nên cấp thiết khi
thành phố đang đồng thời triển khai nhiều dự án chỉnh trang kênh rạch, chống ngập
và phát triển hạ tầng. Nếu mỗi dự án tự tìm một nơi tiếp nhận, việc thiếu quỹ đất
và khoảng cách vận chuyển có thể làm tăng chi phí, ảnh hưởng tiến độ.
Ngược lại, nếu hình thành được mạng lưới các khu vực
tiếp nhận, thành phố có thể chủ động điều phối nguồn bùn, đất từ nơi phát sinh
đến nơi có nhu cầu.
Theo báo cáo của Ban Quản lý dự án, khối lượng phát
sinh lớn nhất tập trung ở các dự án chỉnh trang, nạo vét các tuyến kênh, rạch.
Chẳng hạn, dự án kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên dự kiến phát sinh
khoảng 4,7 triệu m³ đất, bùn; dự án rạch Xuyên Tâm khoảng 643.189 m³; dự án trục
thoát nước rạch Xóm Củi khoảng 350.000 m³ theo từng giai đoạn và hạng mục.
Với quy mô như vậy, nếu không sớm xác định được các
khu vực tiếp nhận, việc vận chuyển bùn, đất có thể trở thành một trong những điểm
nghẽn mới của các dự án chỉnh trang đô thị.
Vì vậy, hướng xử lý mà TP.HCM đang được đề xuất là Sở
Nông nghiệp và Môi trường chủ trì rà soát, xác định nhu cầu và các vị trí phù hợp,
tham mưu UBND TP chấp thuận; đồng thời từng dự án phải thực hiện phân loại, xác
định tính chất vật liệu và hoàn tất thủ tục trước khi đưa bùn, đất đến nơi tiếp
nhận.

Dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước
Lên nhìn từ trên cao.
Đây được xem là giải pháp trước mắt để tháo gỡ điểm
nghẽn cho các dự án đang triển khai. Về lâu dài, TP.HCM cần xây dựng cơ chế quản
lý thống nhất đối với nguồn bùn, đất phát sinh từ hoạt động nạo vét, đào đắp,
trong đó ưu tiên các phương án tái sử dụng hợp lý, công khai các khu vực có nhu
cầu tiếp nhận và kiểm soát chặt vật liệu không đủ điều kiện sử dụng.
Nếu thực hiện được, bùn, đất nạo vét sẽ không chỉ được nhìn nhận là chất thải cần tìm chỗ đổ, mà có thể trở thành nguồn vật liệu thứ cấp phục vụ san lấp, cải tạo mặt bằng và một số hoạt động xây dựng phù hợp.
Mô hình hai bãi tập trung mà ông Bùi Hòa An đề cập
cũng cho thấy hướng đi này: tiếp nhận - phân loại - tập kết - tái sử dụng - giải
phóng mặt bằng - tiếp nhận đợt mới.
Để hiện thực hóa, vấn đề quan trọng nhất vẫn là tìm được
quỹ đất phù hợp và xây dựng được cơ chế pháp lý, kỹ thuật để kiểm soát chất lượng
vật liệu. Khi đó, bài toán hàng triệu mét khối bùn, đất phát sinh từ các dự án
hạ tầng của TP.HCM có thể được giải quyết theo hướng chủ động, tiết kiệm chi
phí và thân thiện hơn với môi trường.
BXD
