Hình thành không gian kinh tế mới
Kinh tế không gian tầm thấp đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới trên thế giới. Trung Quốc đã xác định đây là ngành kinh tế chiến lược, trong khi Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia châu Âu cũng đẩy mạnh phát triển các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ bay tầm thấp. Đáng chú ý, các quốc gia này không chỉ tập trung phát triển thiết bị bay mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái kinh tế hoàn chỉnh, kết hợp công nghệ, hạ tầng, dữ liệu và các dịch vụ ứng dụng. Theo đó, thiết bị bay chỉ là phương tiện, còn giá trị kinh tế cốt lõi nằm ở hệ sinh thái dịch vụ được hình thành trên nền tảng công nghệ số. Đây cũng là định hướng Bộ Khoa học và Công nghệ đang nghiên cứu khi phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Việt Nam.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay giữa mặt đất
và vùng trời của hàng không truyền thống đang hình thành một “không gian kinh tế”
mới. Nhờ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, cảm biến, viễn thông và
các nền tảng điều hành thông minh, không gian này không còn chỉ là vùng hoạt động
của thiết bị bay mà đang trở thành một hạ tầng phát triển mới. Kinh tế không
gian tầm thấp vì thế không chỉ là câu chuyện của drone hay phương tiện bay, mà
là hệ sinh thái kinh tế dựa trên dữ liệu, công nghệ số và các dịch vụ ứng dụng.
Từ logistics, nông nghiệp, quản lý tài nguyên, giám sát hạ tầng đến y tế khẩn cấp,
cứu hộ cứu nạn và đô thị thông minh, hàng loạt lĩnh vực có thể tạo ra giá trị
gia tăng và động lực tăng trưởng mới.
Để đưa kinh tế không gian tầm thấp vào thực tiễn,
thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở thể chế. Theo ông Nguyễn
Văn Thuật, Phó Vụ trưởng Kinh tế và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ), nếu
chờ đến khi hệ thống pháp luật hoàn thiện mới triển khai thì có thể bỏ lỡ cơ hội
phát triển. Ngược lại, nếu triển khai đại trà khi chưa đánh giá đầy đủ các rủi
ro sẽ khó bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn bay và lợi ích của xã
hội.
Để giải quyết bài toán này, Bộ Khoa học và Công nghệ
xác định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát là giải pháp phù hợp. Cách tiếp cận này
cho phép triển khai các mô hình mới trong khuôn khổ được kiểm soát, thay vì chờ
hoàn thiện toàn bộ hệ thống chính sách. Qua thực tiễn thử nghiệm, các rủi ro được
nhận diện, hiệu quả được kiểm chứng, tạo cơ sở để từng bước hoàn thiện cơ chế,
chính sách và nhân rộng mô hình.
Điện Biên - mô hình tiên phong
Điện Biên là địa phương đầu tiên hiện thực hóa cách tiếp
cận này khi ban hành Quyết định số 1291/QĐ-UBND phê duyệt cơ chế thử nghiệm có
kiểm soát phát triển kinh tế không gian tầm thấp theo quy định của Luật Công
nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng Nghị định
số 353/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp Bộ Quốc phòng, Ủy
ban nhân dân tỉnh Điện Biên và doanh nghiệp khảo sát, đánh giá nhu cầu phát triển
kinh tế-xã hội; đồng thời phân tích các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn
bay và những rủi ro có thể phát sinh. Trên cơ sở đó, các khu vực thử nghiệm,
hành lang bay và lĩnh vực ứng dụng được xác định, bảo đảm cơ chế sandbox vừa tạo
không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát chặt chẽ các rủi ro ngay từ đầu.
Theo chia sẻ từ ông Nguyễn Văn Thuật - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ), với những lĩnh vực mới như kinh tế không gian tầm thấp, nếu chờ hoàn thiện đầy đủ hệ thống pháp luật mới triển khai thì có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển. Ngược lại, nếu triển khai đại trà khi chưa đánh giá đầy đủ rủi ro cũng không bảo đảm yêu cầu quản lý. Vì vậy, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được xây dựng nhằm tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, đồng thời thu thập dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện chính sách.
Cũng theo lãnh đạo Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Điện
Biên là địa phương đầu tiên phê duyệt sandbox phát triển kinh tế không gian tầm
thấp. Nếu triển khai thành công, mô hình này sẽ là cơ sở tham chiếu để hoàn thiện
chính sách và mở rộng lĩnh vực kinh tế mới trên phạm vi cả nước.

Điện Biên được lựa chọn do địa hình chia cắt, chi phí
logistics cao, nhiều vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận y tế, hàng hóa và vật tư.
Địa phương cũng có nhu cầu lớn về quản lý rừng, phòng
cháy chữa cháy, cứu hộ và ứng phó thiên tai. Trước khi xây dựng đề án, Bộ Khoa
học và Công nghệ đã phối hợp với Bộ Quốc phòng, tỉnh Điện Biên và doanh nghiệp
khảo sát thực tế, đánh giá hạ tầng, nhu cầu phát triển cùng các yêu cầu về quốc
phòng, an ninh và an toàn bay.
Các khu vực thử nghiệm, hành lang bay và cơ chế phối hợp
được thiết kế nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời kiểm soát rủi ro. Đề
án tập trung 3 nhóm ứng dụng: Nông nghiệp thông minh; logistics tầm thấp phục vụ
vùng sâu, vùng xa; quản lý tài nguyên và dịch vụ công như lập bản đồ, quản lý rừng,
cảnh báo thiên tai.
Theo kế hoạch, đề án sẽ thực hiện khoảng 6.000 chuyến
bay thử nghiệm, phấn đấu trên 99% chuyến bay an toàn và 100% hoạt động bay được
lập kế hoạch, giám sát, lưu vết và báo cáo. Một điểm đáng chú ý của sandbox Điện
Biên là cho phép áp dụng cơ chế miễn trừ có kiểm soát đối với một số điều kiện
kỹ thuật nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện
công nghệ trong điều kiện thực tế. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Thuật nhấn mạnh, mọi
hoạt động đều được giới hạn rõ về phạm vi, thời gian, khu vực và mục tiêu thử
nghiệm, đồng thời chịu sự giám sát của cơ quan quản lý, đặc biệt đối với các
yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn bay và bảo vệ dữ liệu. Theo ông Nguyễn
Văn Thuật, toàn bộ hoạt động thử nghiệm sẽ được quản lý trên một kiến trúc dữ
liệu thống nhất. Mỗi chuyến bay đều được lập kế hoạch, giám sát và lưu vết.
Đề án được triển khai theo bốn giai đoạn, từ chuẩn bị
điều kiện, tổ chức thử nghiệm đến tổng kết, hoàn thiện chính sách và mở rộng
các mô hình hiệu quả.
Nhân rộng từ mô hình tiên phong
Không chỉ Điện Biên, nhiều địa phương trên cả nước
cũng có điều kiện phát triển kinh tế không gian tầm thấp với những mô hình phù
hợp đặc thù của từng vùng. Theo đánh giá của ông Nguyễn Phú Tiến, Phó Vụ trưởng
Kinh tế và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ), nếu Điện Biên phù hợp các mô
hình phục vụ nông nghiệp, logistics miền núi và dịch vụ công ở khu vực khó
khăn, thì Đồng Nai lại có lợi thế nổi trội về công nghiệp, logistics và hạ tầng
giao thông.
Đây là trung tâm công nghiệp, logistics lớn của cả nước,
cửa ngõ kết nối vùng Đông Nam Bộ và là nơi đặt Cảng hàng không quốc tế Long
Thành. Với những lợi thế đó, Đồng Nai có thể nghiên cứu triển khai các mô hình
sandbox phục vụ logistics công nghiệp, giao nhận tốc độ cao trong khu công nghiệp,
quản lý hạ tầng, giám sát môi trường, đô thị thông minh và hệ sinh thái dịch vụ
sân bay. Xa hơn, địa phương này có thể trở thành một trong những nơi tiên phong
kết nối logistics mặt đất, logistics hàng không và logistics tầm thấp trên cùng
một nền tảng số - xu hướng đang được nhiều trung tâm công nghiệp và logistics
hàng đầu thế giới theo đuổi nhằm tạo ra năng lực cạnh tranh mới.
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương cho
biết, thay vì chỉ hướng dẫn thực hiện theo quy định, Bộ đã chuyển sang phương
thức đồng hành với địa phương. Vụ Kinh tế và Xã hội số được giao phối hợp chặt
chẽ với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên theo phương châm “cầm tay chỉ
việc”, cùng xây dựng và hoàn thiện đề án thí điểm ngay từ những bước đầu. Cách
làm này không chỉ giúp Điện Biên sớm đưa mô hình vào thực tiễn mà còn tạo tiền
đề để nhân rộng trên phạm vi cả nước. Đến nay, gần 10 địa phương đã bày tỏ mong
muốn triển khai mô hình tương tự.
Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục đồng
hành với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để hoàn thiện mô hình thông
qua thực tiễn; từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo nền tảng đưa khoa
học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chủ yếu cho
phát triển kinh tế-xã hội.
T/h
