Bốn mươi năm trước, hình ảnh người công nhân Quảng Ninh gắn chủ yếu với vùng mỏ, với những đường lò mà sức người và kinh nghiệm giữ vai trò quan trọng trong sản xuất. Hôm nay, bên cạnh những người thợ mỏ vận hành combai, giàn chống tự hành là lớp công nhân, kỹ sư làm việc cùng robot, máy CNC, dây chuyền tự động trong các nhà máy ô tô, cơ khí, điện tử... Sự chuyển mình ấy song hành với quá trình đổi mới của đất nước, sự phát triển của Quảng Ninh và doanh nghiệp, từng bước hình thành đội ngũ công nhân có tri thức, kỹ năng, khả năng làm chủ công nghệ và thích ứng với phương thức sản xuất hiện đại.
Từ sức người đến làm chủ máy móc
40 năm trước, khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới,
nói đến công nhân Quảng Ninh trước hết là nói đến công nhân ngành Than. Những
khai trường, nhà máy, đường lò tập trung lực lượng lớn lao động và tạo nên dấu ấn
riêng của vùng công nhân Đông Bắc.
Anh hùng Lao động Hà Văn Hồng đã đi qua một thời như
thế. Hơn 20 năm làm thợ lò, từ năm 1978 đến 1993, ông làm tổ trưởng sản xuất tại
Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương. Khi máy móc, thiết bị còn hạn chế, người thợ
phải dựa nhiều vào sức lực, kinh nghiệm và sự phối hợp của đồng đội.

Thợ lò Công ty CP Than Vàng Danh - TKV vận hành các trang thiết bị hiện đại trong hầm lò.
Khó khăn cũng thôi thúc người thợ tìm cách nâng năng
suất. Năm 1983, có ngày tổ của ông Hà Văn Hồng đào được 13,5m lò, trong khi nhiều
tổ khác đạt 5-6m; có tháng đạt 172m. Khi chuyên gia Liên Xô hỗ trợ xây dựng lò
giếng đứng Mông Dương, ông quan sát cách làm, học hỏi rồi cùng anh em áp dụng
vào công việc. Nhìn lại những năm tháng ấy, ông Hà Văn Hồng vẫn nhớ tinh thần dựa
vào nhau để vượt khó của người thợ mỏ: “Gian khổ, khó khăn càng hun đúc tinh
thần đoàn kết, ý chí vượt khó. Anh em dựa vào nhau mà làm, cùng tìm cách nâng
năng suất, hoàn thành công việc”.
Năm 1986, Quảng Ninh bước vào công cuộc đổi mới giữa
nhiều khó khăn về sản xuất và đời sống. Đại hội Đảng bộ Quảng Ninh tháng
10/1986 xác định nhiệm vụ ổn định, phát triển sản xuất than, cải thiện đời sống
công nhân mỏ, công nhân lao động và cố gắng thu xếp việc làm.
40 năm sau, vẫn trong những đường lò ấy, cách người thợ
làm ra những tấn than đã khác rất xa. TKV hiện vận hành 13 dây chuyền cơ giới
hóa đồng bộ, 18 dây chuyền giàn mềm ZRY; đưa máy đào lò combai, băng tải, tời
chở người, hệ thống vận tải monoray vào sản xuất. Nhiều đơn vị xây dựng phòng
điều hành tập trung, số hóa dữ liệu, sử dụng phần mềm giao ca, tự động điều khiển
nhiều hệ thống trong mỏ.
Trong ca sản xuất của thợ lò Công ty Than Uông Bí-TKV.
Tại Công ty Than Uông Bí, từ năm 2022, dây chuyền khai
thác cơ giới hóa đồng bộ tại khu Hồng Thái, mỏ Tràng Bạch sử dụng máy khấu
combai, giàn chống tự hành, hệ thống monoray, đầu tàu diesel. Với công suất thiết
kế 250.000 tấn/năm, sản lượng lò chợ thực tế đạt khoảng 25.000 tấn/tháng, năng
suất lao động tăng 1,5-2 lần, giảm lao động trực tiếp và cải thiện điều kiện
làm việc. Công ty còn duy trì dây chuyền đào lò cơ giới hóa bằng combai EBH-45
cùng các dây chuyền bán cơ giới hóa để đáp ứng yêu cầu khai thác ngày càng xuống
sâu.
Máy móc đã san sẻ nhiều công việc nặng nhọc, nhưng
cũng đặt người thợ trước yêu cầu mới. Trần Văn Quang, Phân xưởng Khai thác đào
lò 18, Công ty Than Uông Bí, trực tiếp cảm nhận sự thay đổi ấy qua từng ca sản
xuất. Anh chia sẻ: “Trước đây nhiều công đoạn phụ thuộc vào sức người, năng suất
thấp, thu nhập chưa ổn định. Khi cơ giới hóa được đẩy mạnh, công việc ổn định
hơn, môi trường làm việc cải thiện rõ rệt, thu nhập tăng lên. Máy móc hỗ trợ
nên anh em chúng tôi đỡ vất vả, làm việc an toàn hơn và yên tâm gắn bó lâu dài
với nghề mỏ”.

Thợ lò Công ty Than Dương Huy-TKV trong ca làm việc.
Để đứng được sau những cỗ máy ấy, người thợ cũng phải
học lại. Trước khi đưa lò chợ cơ giới hóa, máy đào lò combai vào sản xuất, Than
Uông Bí tổ chức đào tạo lý thuyết, huấn luyện trên thiết bị, cử công nhân tham
gia chuyển giao công nghệ và bố trí làm việc cùng những thợ giàu kinh nghiệm.
Sau đào tạo, các tổ, đội tiếp tục cập nhật quy trình, rèn kỹ năng vận hành và xử
lý tình huống trong hầm lò.
Đặt ca làm việc của thợ mỏ Trần Văn Quang hôm nay bên
những mét lò của ông Hà Văn Hồng hơn bốn thập kỷ trước, dấu ấn 40 năm đổi mới
hiện lên cụ thể. Vẫn là người thợ xuống sâu trong lòng đất, vẫn cần sức khỏe, bản
lĩnh, kỷ luật và sự phối hợp của đồng đội, nhưng phương thức lao động đã chuyển
sang một trình độ khác. Sức người từng giữ vai trò chủ yếu, nay tri thức, kỹ
năng và khả năng làm chủ thiết bị ngày càng quyết định năng suất.
Trưởng thành cùng những động lực phát triển mới
Sự chuyển mình của người thợ mỏ cũng phản ánh một phần
hành trình thay đổi của đội ngũ công nhân Quảng Ninh. Nếu 40 năm trước, công
nhân tập trung chủ yếu ở ngành Than và một số ngành công nghiệp truyền thống,
thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp chế biến, chế
tạo và thu hút FDI đã mở rộng không gian lao động. Cùng với thợ mỏ, ngày càng
nhiều công nhân, kỹ sư làm việc trong những nhà máy ô tô, điện tử, cơ khí chính
xác, công nghiệp phụ trợ với dây chuyền và tiêu chuẩn sản xuất quốc tế.

Anh Phạm Xuân Mạnh, Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng
(bên phải) điều khiển robot trong quá trình sản xuất.
Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng rộng 36,5ha, công suất
thiết kế 120.000 xe/năm, vận hành theo tiêu chuẩn của Skoda Auto thuộc Tập đoàn
Volkswagen. Robot tham gia nhiều công đoạn, đặc biệt tại xưởng hàn và những vị
trí yêu cầu độ chính xác cao. Trước khi trực tiếp vận hành robot tại xưởng hàn,
kỹ sư Nguyễn Xuân Mạnh, Phòng Cơ điện cho biết: “Tôi đã trải qua quá trình đào
tạo, hướng dẫn trên dây chuyền. Khi đã làm chủ thiết bị, tôi tiếp tục nghiên cứu
công việc và đề xuất sáng kiến kiểm soát vật tư tiêu hao đầu tiếp hàn, giúp kéo
dài thời gian sử dụng vật tư”.
Theo anh Phùng Quang Sơn, Phó Phòng Kỹ thuật Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng, đội ngũ công nhân, kỹ thuật hiện đã làm chủ việc vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa robot và kiểm tra chất lượng sản phẩm bằng thiết bị đo tự động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tiếp tục ứng dụng công nghệ số vào kiểm soát chất lượng, tiến độ và quản trị sản xuất, và người lao động cũng thường xuyên phải học tập, đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề để đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Một lớp lao động kỹ thuật mới cũng đang trưởng thành
trong các doanh nghiệp FDI. Tại Công ty TNHH Công nghiệp chính xác EVA Quảng
Ninh, KCN Bắc Tiền Phong, robot công nghiệp, máy CNC, máy dập kim loại, máy đúc
nhựa, thiết bị đo tọa độ 2D, 3D... đảm nhiệm nhiều công đoạn sản xuất. Khi mới
tiếp xúc với máy móc hiện đại và robot tự động, kỹ thuật viên Vũ Đức Huấn gặp
không ít khó khăn vì mọi thao tác điều chỉnh, vận hành đều đòi hỏi độ chính xác
cao. Công ty cử anh đi đào tạo trong và ngoài nước; bản thân anh nghiên cứu tài
liệu, trao đổi với chuyên gia. Đến nay, anh đã thành thạo vận hành máy và điều
chỉnh thông số kỹ thuật theo từng sản phẩm.

Anh Vũ Đức Huấn, Công ty TNHH Công nghiệp chính xác EVA
Quảng Ninh từng được đi đào tạo ở nước ngoài.
Sự thay đổi về trình độ nghề nghiệp cũng từng bước
nâng giá trị sức lao động. Năm 2025, theo tổng hợp của Sở Nội vụ, tiền lương
bình quân của người lao động tại 2.269 đơn vị, doanh nghiệp báo cáo đạt gần 13
triệu đồng/người/tháng, tăng gần 13% so với năm 2024. Ở những lĩnh vực đòi hỏi
tay nghề cao, mức thu nhập cao hơn khá rõ. Tại Công ty Than Uông Bí, thu nhập
bình quân hiện đạt 21,54 triệu đồng/người/tháng, riêng thợ lò đạt 25,78 triệu đồng/người/tháng.
Những con số về thu nhập chưa thể phản ánh đầy đủ sự trưởng thành của đội ngũ
công nhân, nhưng cho thấy một mối liên hệ ngày càng rõ giữa trình độ nghề nghiệp,
năng suất lao động và giá trị sức lao động.
Những câu chuyện của công nhân thế hệ mới gặp nhau ở một
điểm: công nghệ tạo ra yêu cầu mới, còn người công nhân phải tự nâng cao kĩ
năng lên để đáp ứng yêu cầu ấy. Học nghề giờ đây không kết thúc khi người lao động
nhận một tấm bằng hay bước vào nhà máy. Mỗi dây chuyền mới, phần mềm mới, robot
mới lại buộc họ tiếp tục học, thực hành, tích lũy kinh nghiệm và tìm cách cải
tiến công việc.
Nhưng người công nhân không đi một mình trên hành
trình đó. Doanh nghiệp đầu tư dây chuyền phải đồng thời đầu tư cho con người.
Than Uông Bí tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ trước khi đưa thiết bị cơ
giới hóa vào sản xuất. Thành Công Việt Hưng đào tạo người lao động về quy
trình, kỹ năng thao tác, an toàn và tiêu chuẩn chất lượng. EVA Quảng Ninh tổ chức
các chương trình đào tạo trong và ngoài nước, làm việc với chuyên gia và xây dựng
lộ trình phát triển năng lực cho người lao động.

Người lao động Công ty TNHH Công nghiệp chính xác EVA
Quảng Ninh vận hành robot trong công việc.
Quảng Ninh cũng tạo nền tảng cho quá trình này thông
qua định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,
thu hút các dự án công nghệ cao và nâng chất lượng nguồn nhân lực. 6 tháng đầu
năm 2026, Quảng Ninh bố trí 1.089 tỷ đồng cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi
số; tạo thêm 14.650 việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 87,8%. Thành phố định
hướng thu hút FDI gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và liên kết với
doanh nghiệp trong nước. Ở đó hình thành một mối quan hệ ngày càng chặt chẽ: định
hướng phát triển của Quảng Ninh mở ra những ngành nghề và không gian việc làm mới;
doanh nghiệp mang đến công nghệ, tổ chức đào tạo; người lao động chủ động học tập,
nghiên cứu và sáng tạo để làm chủ sản xuất. Mỗi mắt xích đều cần đến mắt xích
còn lại.
Nhìn lại 40 năm, khoảng cách giữa người thợ Hà Văn Hồng
trong đường lò Mông Dương và người công nhân đứng bên robot hôm nay không chỉ
đo bằng mức độ hiện đại của máy móc. Khoảng cách lớn hơn nằm ở chính sự trưởng
thành của con người trong sản xuất. Người công nhân từng lấy sức lực và kinh
nghiệm làm vốn nghề nghiệp chủ yếu, nay đang tiến tới một lớp lao động có tri
thức, kỹ năng, tác phong công nghiệp và khả năng làm chủ công nghệ.

Công nhân làm chủ công nghệ sản xuất tại Nhà máy ô tô
Thành Công Việt Hưng.
Nhưng giữa hai thế hệ vẫn có một điểm chung. Người thợ
Hà Văn Hồng năm xưa quan sát chuyên gia, tìm cách làm mới để đào thêm những mét
lò. Người công nhân hôm nay học vận hành combai, robot, nghiên cứu tài liệu kỹ
thuật và đề xuất sáng kiến ngay trên dây chuyền. Tinh thần không bằng lòng với
cách làm cũ, ý thức học hỏi và khát vọng làm chủ công việc vẫn nối những thế hệ
công nhân qua dòng chảy đổi mới.
40 năm đổi mới đã thay đổi diện mạo sản xuất và cũng tạo
điều kiện để người công nhân đổi thay. Khi Quảng Ninh tiếp tục tìm kiếm những động
lực tăng trưởng mới, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư công nghệ, người lao động tiếp
tục học tập và sáng tạo, ba chuyển động ấy sẽ còn song hành. Đó là nền tảng để
hình thành một thế hệ công nhân hiện đại, tri thức, có kỹ năng, bản lĩnh và
năng lực sáng tạo - lực lượng trực tiếp tham gia tạo nên những giá trị mới
trong chặng đường phát triển tiếp theo.
BQN
