Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp trên toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường và phát thải carbon. Với ngành cơ khí Việt Nam, đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để nâng cấp công nghệ, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
CBAM thúc đẩy doanh nghiệp cơ khí xanh hóa sản xuất
Chia sẻ tại hội thảo “Chuyển đổi xanh trong công nghiệp cơ khí - chiến lược
và giải pháp” do Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) và Hiệp hội Chuyển
đổi xanh Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây tại Hà Nội, PGS.TS Lê Kỳ Nam, Phó Chủ
tịch kiêm Tổng Thư ký VAMI, cho biết ngành cơ khí Việt Nam hiện vẫn chủ yếu gồm
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung ở phân khúc gia công, sản xuất linh kiện
và thiết bị trung bình. Năng lực nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ lõi
còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng thiết bị tiêu tốn năng lượng và phụ
thuộc nhiều vào lao động thủ công.
Trong khi đó, doanh nghiệp cơ khí đang phải đối mặt với “áp lực kép” từ
chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Không chỉ nâng cao năng suất và tự động hóa sản
xuất, doanh nghiệp còn phải kiểm soát tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí
nhà kính và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường
quốc tế.
Đặc biệt, việc Liên minh châu Âu (EU) triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới
carbon (CBAM) từ năm 2026 khiến yếu tố carbon trở thành một phần của chi phí và
năng lực cạnh tranh sản phẩm. Doanh nghiệp không chỉ phải chứng minh chất lượng
mà còn phải cung cấp dữ liệu về nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng và lượng
phát thải trong quá trình sản xuất.
Máy nông nghiệp
là một trong những sản phẩm chủ lực của ngành cơ khí Việt Nam. Ảnh: Chu Khôi.
Để đáp ứng các yêu cầu mới, PGS.TS Lê Kỳ Nam cho rằng doanh nghiệp cần xây
dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính, xác định dấu chân carbon của sản phẩm và
thiết lập lộ trình giảm phát thải có thể đo lường được. Các tiêu chuẩn quốc tế
như ISO 14064-1, ISO 14067, ISO 14001 hay ISO 50001 không chỉ phục vụ mục tiêu
chứng nhận mà còn là công cụ quản trị giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống dữ liệu
minh bạch và đáng tin cậy.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, VAMI kiến nghị Nhà nước tiếp tục hoàn thiện
hệ thống tiêu chuẩn, phương pháp đo lường phát thải và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật
cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế tài chính hoặc quỹ hỗ trợ
chuyển đổi xanh để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ,
đầu tư công nghệ mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Quang cảnh hội
thảo. Ảnh: Chu Khôi.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Hoàng Minh Đức, Trưởng ban Kỹ thuật - Nghiên
cứu phát triển, Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM),
cho biết chuyển đổi xanh đã trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì vị thế
trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các yêu cầu về CBAM, ESG và dấu chân carbon từ
các tập đoàn lớn như Honda hay Toyota đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với các
nhà cung cấp.Ông Đức cho biết thêm : ‘‘Qua đánh giá hoạt động sản xuất,
VEAM xác định các nguồn phát thải lớn nhất nằm ở khâu đúc, xử lý nhiệt và tiêu
thụ điện năng. Do đó, các giải pháp mang tính quyết định không phải là các biện
pháp bù đắp phát thải đơn lẻ, mà là đổi mới công nghệ cốt lõi ’’. Dựa trên
những cơ sở này VEAM đã xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh dựa trên ba nhóm giải
pháp chính.
VEAM đã xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh dựa trên ba nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất: Hiện đại hóa công nghệ luyện kim và xử lý nhiệt
thông qua thay thế các thiết bị tiêu hao năng lượng lớn bằng công nghệ mới có
hiệu suất cao hơn.
Thứ hai: Cải tiến công nghệ đúc và vật liệu khuôn nhằm giảm phế thải và tiết kiệm
nguyên liệu.
Thứ ba: Điện khí hóa hoạt động logistics nội bộ, tăng cường tái chế và tuần hoàn vật
liệu trong sản xuất.
Song song với đó, doanh nghiệp cũng triển khai điện mặt trời mái nhà, tối
ưu hóa phụ tải điện và xây dựng hệ thống quản trị dựa trên các chỉ số xanh như
mức tiêu thụ điện năng hoặc lượng phát thải carbon trên mỗi đơn vị sản phẩm. Mục
tiêu dài hạn là hướng tới mô hình nhà máy thông minh gắn với kinh tế tuần hoàn.
Truy vết
Carbon trong ngành cơ khí
Ngoài việc nâng
cấp công nghệ hiện có, các chuyên gia cũng đánh giá cao tiềm năng của công nghệ
in 3D trong ngành cơ khí chế tạo. PGS Lê Văn Thảo, Trung tâm Công nghệ, Học viện
Kỹ thuật quân sự, cho biết công nghệ sản xuất bồi đắp đang mở ra hướng đi mới
cho sản xuất xanh nhờ khả năng tối ưu hóa thiết kế và sử dụng vật liệu hiệu quả.
Khác với phương
pháp gia công truyền thống, in 3D cho phép tạo ra các chi tiết có kết cấu phức
tạp, trọng lượng nhẹ nhưng vẫn bảo đảm độ bền. Nhờ đó, lượng nguyên vật liệu sử
dụng được giảm đáng kể, đồng thời hạn chế phát sinh phế liệu trong quá trình sản
xuất. Công nghệ này cũng góp phần giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí
nhà kính và tạo điều kiện cho việc sửa chữa, tái chế hoặc phục hồi các chi tiết
máy thay vì thay mới hoàn toàn.

Lộ trìng thực thi CBAM. Nguồn: Bà
Nguyễn Thị Giang, chuyên gia kiểm kê khí nhà kính.
Một nội dung được
nhiều doanh nghiệp quan tâm tại hội thảo là yêu cầu truy vết carbon trong chuỗi
sản xuất. Theo bà Nguyễn Thị Giang, Chuyên gia kiểm kê khí nhà kính, các quy định
mới của EU đòi hỏi dữ liệu phát thải phải được theo dõi và truy xuất tới từng
lô nguyên liệu, từng lô hàng xuất khẩu.
Đối với ngành cơ
khí, phần lớn phát thải đến từ nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là thép, cùng với
các công đoạn gia công, xử lý nhiệt và sử dụng điện năng. Thách thức lớn nhất
hiện nay là nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống dữ liệu đầy đủ, khiến việc tính
toán phát thải gặp khó khăn.

Nghĩa vụ thực thi cắt giảm khí thải
nhà kính theo lộ trình đối với doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang EU. Nguồn:
Bà Nguyễn Thị Giang, chuyên gia kiểm kê khí nhà kính.
Nếu không cung cấp
được dữ liệu thực tế, doanh nghiệp có thể bị áp dụng mức phát thải mặc định cao
hơn nhiều so với thực tế, kéo theo chi phí carbon tăng mạnh và làm suy giảm
năng lực cạnh tranh. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải và truy vết
carbon đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Từ đó, bà Giang
khuyến nghị doanh nghiệp cần sớm rà soát danh mục sản phẩm xuất khẩu, làm việc
với nhà cung cấp để thu thập dữ liệu phát thải của nguyên liệu đầu vào, đồng thời
lựa chọn các sản phẩm chủ lực để triển khai tính toán dấu chân carbon ngay từ
bây giờ. Việc chuẩn hóa dữ liệu không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu của CBAM mà còn
tạo lợi thế trong tiếp cận khách hàng và thị trường quốc tế.
Theo
TCKTVN
