6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục khẳng định vị thế quốc gia dẫn đầu ngành chế biến và xuất khẩu gỗ trong ASEAN. Kết quả này phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thương mại toàn cầu, đồng thời cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường đang phát huy hiệu quả, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Tăng trưởng được cải thiện rõ nét trong tháng 6/2026
khi kim ngạch xuất khẩu đạt 1,55 tỷ USD, tăng 7,7% so với tháng trước và tăng
13,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trước đó, năm 2025, ngành gỗ Việt Nam đạt kim ngạch
xuất khẩu 17,2 tỷ USD, chiếm khoảng 63,7% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của toàn
khối ASEAN (27 tỷ USD).
Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành
gỗ Việt Nam với kim ngạch khoảng 4,3 tỷ USD, chiếm gần 49,7% tổng giá trị xuất
khẩu. Tuy nhiên, kim ngạch sang thị trường này giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước,
phản ánh nhu cầu tiêu dùng phục hồi chậm và tác động của các biện pháp phòng vệ
thương mại.
Trong bối cảnh đó, nhiều thị trường khác đang trở
thành động lực tăng trưởng mới. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt khoảng 1,3 tỷ
USD, tăng tới 46,5%, nâng tỷ trọng lên gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị
trường Nhật Bản đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 5,6%, tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn
định nhờ nhu cầu tiêu dùng và hiệu quả từ các hiệp định thương mại tự do. Trong
khi đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc dù có tín hiệu phục hồi trong tháng 6 nhưng lũy
kế 6 tháng đầu năm vẫn đạt 339,3 triệu USD, giảm 8,5% so với cùng kỳ.
Chiến lược đa dạng hóa thị trường đang giúp ngành gỗ mở
rộng đáng kể hiện diện tại nhiều thị trường tiềm năng. Xuất khẩu sang Anh,
Malaysia, Australia và Canada đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Đặc biệt,
kim ngạch sang Hà Lan tăng tới 141,5% và Đức tăng 46,9%, cho thấy dư địa mở rộng
thị phần tại Liên minh châu Âu (EU) còn rất lớn khi doanh nghiệp tận dụng hiệu
quả các ưu đãi từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).
Việc gia tăng tỷ trọng tại các thị trường ngoài Hoa Kỳ
giúp ngành gỗ giảm rủi ro từ việc phụ thuộc vào một số đối tác lớn, nâng cao khả
năng chống chịu của ngành trước những biến động về chính sách thương mại quốc tế.
Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành gỗ,
từ tăng trưởng dựa vào một vài thị trường truyền thống sang phát triển cân bằng,
bền vững và có giá trị gia tăng cao hơn.
Bên cạnh lợi thế về thị trường, ngành gỗ Việt Nam còn
sở hữu năng lực cạnh tranh nhờ làm chủ phần lớn chuỗi cung ứng trong nước.
Doanh nghiệp hiện đảm nhiệm từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất phụ kiện, sơn
hoàn thiện đến tổ chức sản xuất, với khoảng 80% giá trị sản phẩm được tạo ra
trong nước. Tỷ lệ nội địa hóa cao không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng mà
còn tạo lợi thế về chi phí, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu ngày càng khắt khe của
thị trường quốc tế.

Ngành gỗ Việt Nam còn sở hữu năng lực cạnh tranh nhờ
làm chủ phần lớn chuỗi cung ứng trong nước
Hiệu quả của chuỗi giá trị nội địa cũng được phản ánh
qua đóng góp nổi bật vào cán cân thương mại. Năm 2025, trong tổng mức xuất siêu
khoảng 21 tỷ USD của cả nền kinh tế, riêng ngành gỗ và nội thất đóng góp gần 14
tỷ USD, tương đương khoảng hai phần ba tổng thặng dư thương mại của cả nước. Đồng
thời, ngành hiện có khoảng 4.600 doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu gỗ,
tạo việc làm cho khoảng 2,4 triệu lao động và gắn với khoảng 1,4 triệu hộ trồng
rừng sản xuất, hình thành nền tảng nguyên liệu ổn định cho phát triển lâu dài.
Theo dự báo của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, nhu cầu
nhập khẩu tại các thị trường lớn, đặc biệt ở châu Á và châu Âu, sẽ tiếp tục cải
thiện trong nửa cuối năm 2026. Cùng với việc tận dụng hiệu quả các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng thị trường
xuất khẩu, xuất khẩu gỗ được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu ASEAN
nhờ đa dạng hóa thị trường, tạo dư địa tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
KTTC
