Đây là một trong những khuyến nghị được đề cập tại Báo cáo thường niên “Chuyển đổi kép – Trí tuệ nhân tạo và tác động đến chuyển đổi kép cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) thực hiện.
Áp lực và động lực từ chuẩn mực quốc tế
Dẫn khảo sát của VCCI thực hiện năm 2024 cho thấy, 90%
thương mại toàn cầu hiện chịu tác động từ các rào cản phi thuế
quan liên quan đến môi trường, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu, Báo
cáo nhấn mạnh: những chuẩn mực quốc tế đang tạo áp lực tuân thủ cho
doanh nghiệp, song đồng thời cũng là cơ hội tạo động lực nâng tầm
năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (doanh nghiệp SME).

Mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của một
số ngành, lĩnh vực trọng điểm qua các năm từ 2022 - 2024
Trong đó, 2 khung cam kết có ảnh hưởng lớn nhất đến
Việt Nam hiện nay là hiệp định CPTPP - chuẩn hóa chuỗi cung ứng, tái
thiết cách thức tham gia thương mại toàn cầu và EU Green Deal - hàng
rào kỹ thuật mới, điều kiện bắt buộc để giữ vững thị trường EU.
Cùng với đó, ba xu hướng nổi bật đang dần trở thành điều kiện để duy
trì năng lực cạnh tranh. Đó là, minh bạch truy xuất nguồn gốc, kiểm
soát phát thải carbon và thiết kế sản phẩm theo hướng bền vững.
Các xu hướng toàn cầu ngày càng định hình lại
chuẩn mực phát triển, năng lực chuyển đổi thực tế của doanh nghiệp
Việt Nam trở thành yếu tố then chốt. Theo ghi nhận của các chuyên gia thực
hiện Báo cáo, các lĩnh vực có tỷ trọng xuất khẩu cao của Việt Nam như
nông sản - thực phẩm, dệt may và chế biến chế tạo đang chủ động
chuyển đổi. Chuyển động này không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng kỳ
vọng thị trường mà còn nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch chuỗi
cung ứng và tăng cường vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo khảo sát tự đánh giá do doanh nghiệp chủ động
cung cấp thông qua Cổng thông tin Chương trình hỗ trợ chuyển đổi số
doanh nghiệp, trong giai đoạn 2023 - 2024, mức độ sẵn sàng chuyển đổi
số của doanh nghiệp tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã cải thiện
nhẹ. Điểm số của doanh nghiệp ở TP Hồ Chí Minh tăng từ 3.1 lên 3.14 và
TP Hà Nội từ 3.12 lên 3.14. Mức điểm trên cho thấy các doanh nghiệp đã
bước vào giai đoạn “phát triểnˮ trong chuyển đổi số, song tốc độ
tăng điểm còn chậm.
Nhận định về những rào cản hiện hữu của quá trình chuyển đổi
trên, các chuyên gia đề cập đến những hạn chế về tài chính và đầu tư
công nghệ, thiếu hụt nhân lực kỹ thuật số và kỹ năng quản trị hiện
đại khiến việc triển khai công nghệ mới chỉ dừng lại ở các bộ phận
đơn giản chưa lan tỏa sang các hoạt động cốt lõi. Các rào cản khác
liên quan đến dữ liệu phân mảnh, hệ sinh thái số chưa đồng bộ,
khoảng cách giữa định hướng chính sách và hiệu quả triển khai thực
tế…
Hoàn thiện khoảng trống chính sách
Dù đang gặp phải nhiều rào cản nhưng với làn sóng chuyển
đổi kép đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, các doanh nghiệp SME tại
Việt Nam đang có nhiều cơ hội tăng tốc.
Trước hết, đó là sự phát triển mạnh của công nghệ tiên
tiến như Green AI, Cloud/Edge computing, Blockchain đã góp phần chuyển hoá
áp lực mà doanh nghiệp đang đối mặt để chuyển hóa thành năng lực cạnh
tranh, giúp dễ dàng truy xuất dữ liệu, tối ưu hóa vận hành và đáp
ứng chuẩn mực quốc tế để thực thi quy định thuận lợi hơn.
Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên với thị
trường carbon nhưng vẫn hạn chế về hệ thống dữ liệu tích hợp, quỹ
hỗ trợ đủ lực và lộ trình chuyển đổi theo ngành. Bài học thành công
trong chuyển đổi kép từ Đức và Hàn Quốc cho thấy, chỉ khi có chiến
lược đi kèm hỗ trợ thực chất, doanh nghiệp mới đủ sức vượt qua
vòng “sát hạchˮ quốc tế ngày càng khắt khe.
Thứ hai, trong bối cảnh mới, công nghệ không chỉ là
công cụ mà là năng lực cạnh tranh mới. Nhiều quốc gia đã xác định
công nghệ là hạ tầng bắt buộc để doanh nghiệp duy trì năng lực
xuất khẩu và năng suất bền vững. Doanh nghiệp SME Việt Nam rút ngắn
khoảng cách nhờ mô hình dịch vụ theo nhu cầu, không đòi hỏi đầu tư
lớn.
Để làm được điều này, ngoài các chiến lược phát triển
công nghệ hay chiến lược AI quốc gia, theo các chuyên gia, Việt Nam cần đẩy
mạnh hơn nữa việc xây dựng định hướng chuyển đổi ứng dụng theo
ngành, thành lập các tổ chức đồng hành với doanh nghiệp trong quá
trình triển khai. Các mô hình như KOSME của Hàn Quốc hay ESG tại
Singapore đã cho thấy, công nghệ chỉ phát huy đúng vai trò khi có hệ sinh
thái “kích hoạt và thực thiˮ chứ không dừng ở văn bản chính sách.
Từ kinh nghiệm thành công của một số quốc gia và thực tiễn tại
Việt Nam, các chuyên gia khuyến nghị cần phát triển hệ sinh thái để hỗ
trợ doanh nghiệp SME với 3 trụ cột chính. Đó là ưu tiên phát triển hạ
tầng dữ liệu và nền tảng số cho các ngành xuất khẩu chủ lực; hoàn
thiện cơ chế tài chính xanh chuyên biệt cho doanh nghiệp SME, thúc đẩy
quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo theo ngành, luật hóa lộ trình Netzero
theo nhóm doanh nghiệp và thiết lập ủy ban liên ngành điều phối.
Cuối cùng liên quan đến công nghệ, tập trung vào các
công nghệ dễ tiếp cận, đặc biệt là AI - giúp doanh nghiệp tối ưu
hóa vận hành, giám sát ESG theo thời gian thực và nâng cao năng lực
cạnh tranh bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
DĐDN
