Hà Nội đã hoàn thành Kế hoạch giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2025–2030 với
chi phí ước tính là 53 tỷ đô la Mỹ, chủ yếu dành cho phát triển đường sắt đô thị
nhằm giảm bớt tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài ở thủ đô.
Hà Nội đang đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng giao thông với 15 tuyến đường sắt
đô thị được quy hoạch, những dự án tốn kém và phức tạp về mặt kỹ thuật nhưng lại
cần thiết để định hình lại thành phố và giảm bớt tình trạng tắc nghẽn, ô nhiễm
và sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.
Chuyên gia giao thông Lê Trung Hiếu cảnh báo tình trạng tắc nghẽn đe dọa đến
tăng trưởng bền vững và chất lượng cuộc sống tại thủ đô, đồng thời gọi việc mở
rộng tàu điện ngầm là “giải pháp chiến lược
nhất để cải thiện giao thông Hà Nội”.
Chủ tịch Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội Nguyễn Cao Minh cho biết, mục
tiêu đến năm 2030, vận tải hành khách công cộng sẽ đáp ứng 50%-55% nhu cầu đi lại
tại khu vực trung tâm và 65%-70% sau năm 2030, một mục tiêu bất khả thi nếu
không có hệ thống tàu điện ngầm hiện đại.
Sau khi hoàn thành, mạng lưới này dự kiến sẽ phục vụ 3,2 triệu lượt hành
khách mỗi ngày, đáp ứng 35%–40% nhu cầu giao thông công cộng ở các quận trung
tâm và 20% ở các vùng ngoại ô.
Thành phố đang có kế hoạch theo đuổi phát triển đô thị theo định hướng giao
thông công cộng (TOD), với trọng tâm là các hành lang tàu điện ngầm. “Tàu điện
ngầm là thiết yếu vì nó không chỉ giảm ùn tắc và ô nhiễm mà còn thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của Hà Nội”, ông Minh nói.
Chiến lược này phù hợp với các chính sách quốc gia, bao gồm Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 30-NQ/TW (năm 2022) của Bộ Chính
trị và Kết luận số 49-KL/TW (năm 2023), tất cả đều coi phát triển đô thị là ưu
tiên hàng đầu.
Quốc hội và Chính phủ cũng đã thông qua Kế hoạch đầu tư đường sắt đô thị
toàn diện và một nghị quyết thí điểm trao cho Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
thẩm quyền đặc biệt để đẩy nhanh việc mở rộng tàu điện ngầm.
Minh lưu ý rằng thành phố hiện cần một mạng lưới lớn hơn so với kế hoạch
ban đầu. “Quy hoạch cũ có mười tuyến, nhưng hiện chúng tôi đề xuất mười lăm tuyến
tích hợp với việc tái phát triển TOD.”
Tổng mức đầu tư cho hệ thống 15 tuyến, dự kiến đến năm 2045, ước tính là 1,39 nghìn tỷ đồng (55,44 tỷ USD).

Một chiến lược, ba giai đoạn
Việc mở rộng hệ thống tàu điện ngầm Hà Nội tuân theo lộ trình “một chiến lược,
ba giai đoạn” dựa trên năm nguyên tắc: cân đối đầu tư với khả năng tài trợ, tối
đa hóa hiệu quả, ưu tiên các tuyến đường trung tâm đã được nghiên cứu chi tiết,
kết nối các trung tâm giao thông quan trọng như sân bay và nhà ga chính, đồng
thời đảm bảo tính nhất quán về công nghệ và thực hiện hiệu quả.
Giai đoạn 1 (đến năm 2030) sẽ hoàn thành 96,8 km tuyến metro (tuyến số 2,
3.1 và 5) và chuẩn bị đầu tư 301 km đường sắt đô thị, với tổng mức đầu tư
406.000 tỷ đồng (16,21 tỷ USD). Hệ thống sẽ vận hành khoảng 680 toa tàu metro,
phục vụ 2,2-2,6 triệu lượt hành khách mỗi ngày, tương đương 7%-8% tổng nhu cầu
vận tải hành khách công cộng.
Giai đoạn 2 (2030–2035) sẽ bổ sung 301 km với 2.110 toa tàu điện ngầm, với
kinh phí ước tính 526 nghìn tỷ đồng (20,97 tỷ USD). Đến thời điểm đó, dự kiến
các tuyến metro sẽ phục vụ 9,7–11,8 triệu lượt hành khách mỗi ngày, chiếm
35%–40% tổng lượng hành khách đô thị.
Giai đoạn 3 (2035–2045) sẽ xây dựng thêm 196,2 km, với kinh phí 458 nghìn tỷ
đồng (18,27 tỷ USD) và triển khai 1.375 toa tàu điện ngầm.
Đến năm 2045, Hà Nội dự kiến hoàn thành hơn 600 km đường ray và vận hành
15 tuyến với 4.165 toa tàu điện ngầm, một tầm nhìn đầy tham vọng nhưng kiên định
về khả năng di chuyển bền vững trong đô thị.
Để đáp ứng nhu cầu tài chính lớn, Kết luận số 49-KL/TW chỉ đạo huy động mọi
nguồn lực sẵn có đồng thời ưu tiên phát triển đường sắt trong chiến lược cơ sở
hạ tầng quốc gia.
Vốn trong nước vẫn là nền tảng, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ
chốt và nguồn tài chính bên ngoài tạo đòn bẩy chiến lược.
Thành phố sẽ xem xét tất cả các nguồn đầu tư công, bao gồm phân bổ ngân
sách, trái phiếu, vốn vay ODA và các kênh hợp pháp khác, để tài trợ cho chương
trình tàu điện ngầm dài hạn này.
Tttbđthnt
