Việt Nam và các nước thành viên của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) đã chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA Việt Nam-EFTA).
Hiệp hội thương mại Tự do châu Âu (EFTA) bao gồm 4 nước:
Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein. Hai bên đã trải qua 21 Phiên đàm phán
chính thức. Phiên đàm phán gần nhất là Phiên đàm phán diễn ra tại Iceland từ
ngày 17-22/6/2026.
Ngày 22/6/2026, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh
Nhật Tân đã dẫn đầu đoàn đàm phán Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng các nước
EFTA tại Iceland để trao đổi về các vấn đề cuối cùng còn tồn đọng để kết thúc
đàm phán.
Ngày 2/7/2026, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc đã
kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại Tự do Việt Nam-EFTA. Hiệp định này được
kỳ vọng sẽ mở ra giai đoạn hợp tác mới, tạo nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy
thương mại, đầu tư và mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các
quốc gia EFTA.
Ngày 2/7/2026, Hiệp hội thương mại Tự do châu Âu
(EFTA) và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính thức công bố
việc kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa hai bên. Thông báo này
được đưa ra sau cuộc họp Bộ trưởng EFTA tại Reykjavík, Iceland ngày 22/6/2026,
đánh dấu việc hai bên chính thức hoàn tất tiến trình đàm phán. Trước đó, các
nhóm đàm phán của EFTA và Việt Nam đã tiến hành nhiều ngày đàm phán kỹ thuật tại
Reykjavík ngay trước thềm chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng các nước EFTA.
Hội nghị Bộ trưởng tại Iceland có sự tham dự của bà
Þorgerður Katrín Gunnarsdóttir, Bộ trưởng Ngoại giao Iceland; ông Espen Barth
Eide, Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy; bà Sabine Monauni, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng
Ngoại giao Liechtenstein; ông Guy Parmelin, Tổng thống kiêm Bộ trưởng Kinh tế,
Giáo dục và Nghiên cứu Thụy Sĩ; và ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công
thương Việt Nam.
Đàm phán FTA Việt Nam-EFTA được khởi động lại từ ngày
8/9/2025 tại Geneva và đã trải qua 5 Phiên đàm phán. Hiệp định này mang tính
toàn diện và hiện đại, bao trùm nhiều lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại
dịch vụ, quy tắc xuất xứ, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, rào
cản kỹ thuật đối với thương mại, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp phòng
vệ thương mại, mua sắm chính phủ, thương mại và phát triển bền vững, doanh nghiệp
nhỏ và vừa, cũng như hợp tác và nâng cao năng lực. Hiệp định hướng tới việc
tăng cường quan hệ thương mại giữa các quốc gia EFTA và Việt Nam thông qua việc
xóa bỏ hoặc giảm thuế quan, tạo thuận lợi thương mại và thúc đẩy phát triển bền
vững.
Phát biểu tại cuộc họp Bộ trưởng EFTA, ông Espen Barth
Eide nhấn mạnh: "Trong bối cảnh bất ổn toàn cầu, việc củng cố quan hệ với
các đối tác thương mại tin cậy càng trở nên quan trọng. Tôi vui mừng khi chúng
ta đạt được một hiệp định thương mại tự do đầy tham vọng và mang tính định hướng
tương lai, giúp cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch
vụ, đồng thời tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như phát triển bền vững và
quyền sở hữu trí tuệ. Tôi tin tưởng rằng hiệp định này sẽ mở ra nhiều cơ hội
thương mại mới cho doanh nghiệp tại các quốc gia EFTA và Việt Nam”.
Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định
ý nghĩa đặc biệt của hiệp định: "Hiệp định cũng mang ý nghĩa đặc biệt khi
kết nối các nền kinh tế có thế mạnh bổ trợ cho nhau. Một bên là các nước EFTA với
năng lực hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, công nghệ, tài chính, năng lượng
sạch và phát triển bền vững; bên kia là Việt Nam - một trong những nền kinh tế
năng động nhất châu Á, đang nổi lên như một trung tâm sản xuất, thương mại và đầu
tư quan trọng của khu vực. Quan trọng hơn, Hiệp định tạo nền tảng để đưa quan hệ
kinh tế giữa Việt Nam và các nước EFTA bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Với những cam kết toàn diện và tiêu chuẩn cao, Hiệp định sẽ tạo dựng môi trường
kinh doanh ổn định, minh bạch và có thể dự báo được, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ
hơn nữa các dòng chảy thương mại, đầu tư, công nghệ và tri thức giữa hai bên”.
Việc kết thúc đàm phán mở ra giai đoạn hợp tác mới, đặt
nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên, đồng thời
mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực cùng quan tâm.
Trong thập kỷ qua, thương mại giữa EFTA và Việt Nam
tăng trưởng ổn định. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 4,8 tỷ EUR,
với thặng dư thương mại của Việt Nam đạt 2,5 tỷ EUR, tăng mạnh so với mức 0,5 tỷ
EUR mười năm trước (không tính số liệu vàng của Thụy Sĩ). Các mặt hàng xuất khẩu
chính của EFTA sang Việt Nam gồm máy móc điện, thủy sản, dược phẩm và máy móc
cơ khí; trong khi Việt Nam xuất khẩu chủ yếu máy móc điện, giày dép, hàng may mặc
và máy móc cơ khí. Các nhóm hàng nhập khẩu này đều ghi nhận mức tăng trưởng
bình quân hơn 10% mỗi năm trong thập kỷ qua.
