Ngày 2/4, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" (gọi tắt là Kết luận số 18-KL/TW).
Sau đây là toàn văn Kết luận số 18-KL/TW:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cơ bản tán thành nội
dung các Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030 về phát triển kinh tế-xã hội, tài
chính quốc gia, vay, trả nợ công, đầu tư công do Đảng uỷ Chính phủ trình (Tờ
trình số 14-TTr/ĐU kèm theo các Báo cáo số 236-BC/ĐU, 237-BC/ĐU, 238-BC/ĐU,
239-BC/ĐU, ngày 22/3/2026); đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số nội dung sau đây:
I-BỐI CẢNH VÀ TÌNH HÌNH GIAI ĐOẠN 2021-2025
Tình hình thế giới giai đoạn 2021-2025 có những thời
cơ, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu;
tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp
của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả,
có trọng tâm, trọng điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa
phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, đột
phá, nhiều điểm sáng nổi bật; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu
giai đoạn 2021-2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo
đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, bình quân 5 năm
đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026
USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách
nhà nước (NSNN) và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; bảo đảm an ninh, an
toàn tài chính quốc gia. Thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật.
Nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu
kém đã được xử lý có kết quả. Quản lý và sử dụng vốn đầu tư công có chuyển biến
theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao hiệu quả; hệ thống hạ
tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh triển khai, xây dựng hệ thống
đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, điện hạt nhân. Phát
triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt
được những kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm. Các lĩnh vực văn hoá,
y tế, giáo dục có bước phát triển tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của
Nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường;
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Đối ngoại và hội nhập quốc
tế được nâng tầm và đạt nhiều kết quả nổi bật, mở ra cơ hội mới cho phát triển
đất nước.
Đặc biệt, cuối nhiệm kỳ đã ban hành và tổ chức thực hiện
nhiều quyết sách chiến lược mang tính bước ngoặt, tạo thế và lực cho tăng tốc
phát triển. Cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy đã đạt được những kết quả
mang tính đột phá. Xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới, tháo gỡ các điểm nghẽn
về thể chế. Xây dựng, triển khai quyết liệt, hiệu quả các nghị quyết đột phá của
Bộ Chính trị.
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn một
số hạn chế, khó khăn. Nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất,
chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế
chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa
nhiều cho tăng trưởng; cơ chế, chính sách trong lĩnh vực này còn tồn tại nhiều
điểm nghẽn. Phân cấp nguồn thu và quan hệ giữa ngân sách trung ương-ngân sách địa
phương còn bất cập. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ
khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Công tác chuẩn bị dự án đầu tư công còn hạn
chế, chất lượng chưa cao, còn dàn trải; chưa chú trọng đúng mức đánh giá hiệu
quả kinh tế-xã hội và hạch toán kinh tế tổng thể. Đời sống của một bộ phận người
dân còn khó khăn. Tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát
hiệu quả. Công tác tổ chức thực thi có nhiều đổi mới, song vẫn chưa bắt kịp với
yêu cầu phát triển. Hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau
sắp xếp còn gặp khó khăn, lúng túng.
Nguyên nhân của những hạn chế trước hết là do tình
hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, chưa có tiền lệ, vượt quá khả năng dự
báo. Ở trong nước, một số bộ, cơ quan, địa phương có lúc, có nơi còn chưa chủ động,
sáng tạo, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; năng lực
dự báo, phản ứng chính sách có nơi, có lúc còn hạn chế; một bộ phận cán bộ còn
chưa thực sự đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, còn đùn đẩy, thiếu trách nhiệm;
cơ chế, chính sách, pháp luật vẫn còn những điểm nghẽn, chưa theo kịp yêu cầu
phát triển; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, các địa phương chưa chặt chẽ, hiệu
quả.

Phiên Bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV
II-KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, TÀI CHÍNH QUỐC
GIA, ĐẦU TƯ CÔNG, VAY, TRẢ NỢ CÔNG GIAI ĐOẠN 2026-2030
Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới tiếp
tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường… ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển
kinh tế-xã hội. Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó
khăn và với quyết tâm cao, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất quan điểm,
mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:
1. Quan điểm, mục tiêu
1.1. Quan điểm chỉ đạo
- Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của
Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của
Mặt trận Tổ quốc và sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị,
cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân.
- Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV
của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để
phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định kinh tế
vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Kiên định mục
tiêu, hành động quyết liệt, hiệu quả; đánh giá sát tình hình, linh hoạt các giải
pháp vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai đoạn 2027-2030.
- Đẩy mạnh xây dựng đồng bộ thể chế kiến tạo và phát
triển bền vững, tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông
và giải phóng nhanh mọi nguồn lực; phát triển lực lượng sản xuất mới. Phân cấp,
phân quyền tối đa, thực chất gắn với cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm nguồn
lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc; phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
- Bảo đảm cân đối bền vững, an toàn tài chính quốc
gia, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Thực hiện hạch toán hiệu quả
kinh tế - xã hội trong phân bổ, quản lý và sử dụng mọi nguồn lực. Quản lý nợ
công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Đầu tư công hiệu quả, có trọng
tâm, trọng điểm, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo
lan toả lớn, bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng
trưởng kinh tế dài hạn.
1.2. Mục tiêu và chỉ tiêu
Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng
GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm
soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống
Nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát
triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh
tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững;
mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển
mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng
với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng,
an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
được nâng lên (Chỉ tiêu cụ thể tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Phụ lục
1, Phụ lục 2 kèm theo Kết luận này).
2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Trung ương yêu cầu tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng
bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết, kết luận của Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư; trong đó, tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải
pháp trọng tâm sau (Các nhiệm vụ, thời hạn cụ thể nêu tại Phụ lục 3 kèm theo Kết
luận này).
2.1. Nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế-xã hội
5 năm 2026-2030
a) Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động;
đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con
số"
Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng
viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện
mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất
lượng đời sống Nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ
thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả,
sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm
người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện.
Tăng cường tuyên truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố niềm tin,
khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.
b) Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện
đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng
Xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để
xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm"
sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức
kinh tế-kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát. Nâng cao hiệu quả tổ chức
thi hành pháp luật, xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban
hành, bảo đảm chuyển tư duy đánh giá hiệu quả pháp luật từ "tốt trong văn
bản" sang "tốt trong cuộc sống". Tiếp tục có giải pháp để nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương
đến địa phương.
Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về
thể chế, cơ chế, chính sách. Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống
pháp luật liên quan đến phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt
trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng… góp phần
tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính; chuẩn hoá, số hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số,
liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi
phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt
Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm
2028.
Đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thực hiện, chú trọng
giám sát và xử lý sau thanh tra, đẩy mạnh hơn nữa phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực. Kiên quyết, kịp thời thay thế cán bộ yếu kém, đùn đẩy, thiếu
trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ; khen thưởng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tập trung nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức, viên chức gắn với cơ cấu lại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong giai đoạn mới; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Trung ương-địa
phương-doanh nghiệp - người dân; ban hành các chính sách đột phá, bảo vệ người
dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
c) Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại
các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Tiếp
tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế; thúc đẩy và làm mới các động lực
tăng trưởng truyền thống từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ
các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới. Xây dựng và hiện đại hoá nền công
nghiệp quốc gia vững mạnh; tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số
ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim,
vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hoá chất, công nghệ số, sinh học,
công nghiệp phụ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh cơ cấu
lại nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững, giá trị gia tăng cao; tổ chức sản
xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số; phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng
nông thôn mới. Nghiên cứu đổi mới căn bản chính sách về hạn mức đất lúa theo hướng
chuyển từ quy định cứng về diện tích tối thiểu sang quy định linh hoạt chuyển đổi
diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng phải quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi,
tránh áp dụng tuỳ tiện, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Phát triển các
ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hoá hệ sinh thái dịch vụ, phát triển một số
ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, hàm lượng tri thức, công nghệ và
giá trị tăng cao. Đẩy nhanh xây dựng và hoàn thiện các chính sách phát triển
các mô hình kinh tế mới. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo đảm
quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển. Xây dựng
kinh tế cửa khẩu hiện đại, đẩy mạnh thương mại biên giới, gắn với hạ tầng công
nghệ, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với
triển khai hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị. Đổi mới kinh tế nhà nước,
trọng tâm là quản trị doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường
hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực
quan trọng; tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp,
bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư
nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; có chính sách phù hợp, tạo môi trường minh bạch,
thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực. Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng
công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Thu hút
có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng
chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi
sau-ưu đãi theo kết quả; chú trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kết nối giữa
khu vực FDI với khu vực trong nước; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.
Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa
quan trọng cho tăng trưởng; chuyển dịch mạnh mẽ sang các loại hình phân phối hiện
đại. Tổ chức các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, thực chất, hiệu quả.
Phát triển hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch chất lượng cao, du lịch số; kết hợp
thúc đẩy du lịch quốc tế với các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ, mua sắm hàng
hoá. Mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, tận dụng có
hiệu quả các FTA đã ký kết, phát triển các thị trường mới; ưu tiên xuất khẩu
các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn xanh, tiêu
chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG); tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến
lược của các nước.
d) Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế;
khơi thông và đa dạng hoá các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn
Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh
hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác,
bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con
số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiên quyết
không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Giao Chính phủ chủ động
điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.
Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh
huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Triển khai các
giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng
khoán; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả
hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu
hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển đa dạng
các loại hình nhà đầu tư tổ chức, phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các
sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức
bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân hàng chính sách xã hội. Mở rộng tỉ lệ sở
hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng,
đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng,
hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống. Tăng vốn điều lệ cho các
ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các
quỹ, phát hành cổ phiếu, NSNN… theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông
lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển lành mạnh và đa dạng hoá các nguồn vốn, tăng
cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp
nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
đ) Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số
Khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách,
tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trọng tâm
là cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, đầu tư, cơ chế cho các đơn vị sự nghiệp
khoa học, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện và khai thác hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn. Tăng cường hợp tác
công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ
chất lượng cao. Xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa
học trong nước và quốc tế. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách thu hút nhân
tài, chuyên gia trong và ngoài nước. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng
sáng tạo, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến
lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số. Chú trọng nghiên cứu cơ bản,
gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, nhất là những lĩnh vực Việt
Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Có cơ chế, chính sách đột phá thúc đẩy
chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an toàn, khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Quản lý, thúc đẩy phát triển tài sản số, tiền kỹ thuật số lành mạnh và hiệu quả.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội; phát triển hệ thống đổi
mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
e) Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị
văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam
Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân
tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Phát triển mạnh công nghiệp văn
hoá, giải trí, dịch vụ văn hoá, các ngành kinh tế sáng tạo, kinh tế thể thao,
công nghiệp sự kiện, phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch
vụ văn hoá số; hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản; khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ văn hoá số; gắn kết văn hoá với
du lịch, thương mại và công nghệ, hình thành chuỗi giá trị. Triển khai hiệu quả
Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá. Hoàn thiện hệ thống thiết
chế văn hoá quốc gia gắn với xây dựng các công trình văn hoá, thể thao ngang tầm
khu vực và quốc tế. Có chính sách nâng cao đời sống văn hoá, thu hẹp khoảng
cách hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp Nhân dân. Xây dựng
hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, chú trọng phát
triển văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
g) Hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất
lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài
Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ
chế, chính sách, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi
đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao trong các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ
và phục vụ các chương trình, dự án chiến lược, trọng điểm quốc gia; phát triển
hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Đặt hàng các doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp công nghệ tham gia đào tạo
nghề. Nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, đưa tiếng Anh trở
thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; đào tạo, trang bị kiến thức cơ bản về
văn hoá, nghệ thuật và tăng cường hoạt động thể dục, thể thao, nâng cao thể chất
cho học sinh. Hiện đại hoá giáo dục đại học, phát triển một số cơ sở giáo dục đại
học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo ngang tầm các nước tiên tiến; đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo
vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non. Chuyển đổi
số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong
giáo dục và đào tạo.
h) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại;
thúc đẩy đô thị hoá và phát triển đô thị, liên kết vùng
Tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy
hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không
lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối
quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ
cao tốc. Xây dựng các tuyến giao thông trọng yếu kết nối liên vùng, kết nối các
cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu quốc tế lớn. Cải tạo, nâng cấp các tuyến
đường thuỷ nội địa có mật độ vận tải cao; phát triển hệ thống cảng thuỷ nội địa
trên các hành lang vận tải thuỷ chính.
Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng
kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng; nghiên cứu phát triển nhiệt điện than
quy mô hợp lý kèm theo lộ trình thu hồi, xử lý khí thải; đẩy mạnh phát triển
năng lượng tái tạo, năng lượng mới. Phát triển hạ tầng thuỷ lợi theo hướng đa mục
tiêu, bảo đảm an ninh nguồn nước, hạ tầng phòng, chống thiên tai, thích ứng với
biến đổi khí hậu.
Tạo đột phá trong phát triển hạ tầng thông tin và truyền
thông; ưu tiên đầu tư, hiện đại hoá hạ tầng số; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ
liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, trung tâm dữ liệu lớn. Phát triển các nền
tảng số quốc gia, tiện ích kỹ thuật số thiết yếu đáp ứng được yêu cầu Chính phủ
số, kinh tế số, xã hội số. Phát triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng văn hoá, xã hội;
đầu tư xây dựng một số công trình văn hoá trọng điểm quốc gia mang tầm khu vực,
quốc tế.
Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế
trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và
toàn cầu. Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian
phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất
lượng đô thị hoá. Phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại gắn với yêu cầu
phát triển đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Khai thác
hiệu quả không gian tầm thấp, không gian ngầm.
Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ, thủ trưởng bộ, ngành, cơ
quan chịu trách nhiệm chỉ đạo rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn
đọng (kể cả các dự án trong và ngoài ngân sách), những vấn đề thuộc thẩm quyền
thì phải quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo rõ vướng mắc và sớm đề xuất
phương án xử lý đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
i) Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ,
công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân
Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát
triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính
sách về dân số và phát triển. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại,
thích ứng linh hoạt, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ
xã hội cơ bản, thiết yếu. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng hiện đại,
hội nhập, bao phủ toàn bộ lực lượng lao động. Phát triển thị trường lao động
linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập. Chú trọng tạo việc làm có thu nhập ổn
định, hỗ trợ người lao động trong khu vực phi chính thức, người sau độ tuổi lao
động. Khuyến khích làm giàu chính đáng, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu.
Thành lập, sử dụng hiệu quả quỹ nhà ở quốc gia; đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội
và nhà ở thương mại giá rẻ.
Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả;
tập trung công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh, kiểm soát tốt dịch bệnh. Triển
khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và
phát triển. Tổ chức lại, nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, y tế dự
phòng; xây dựng, phát triển một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngang tầm
khu vực và quốc tế; hình thành, phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu hiện đại.
Bảo đảm mức sống của gia đình người có công; chăm sóc,
bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em. Tăng cường, nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước và thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo.
k) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi
trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu
Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy
hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên
nhiên và đa dạng sinh học. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và
xử lý vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường. Nâng cao hiệu quả quản lý,
khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài
nguyên biển, đất hiếm. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường bất động
sản, quyền sử dụng đất, khoáng sản, năng lượng. Phát triển kinh tế rừng bền vững,
nâng cao giá trị lâm sản gắn với khoa học, công nghệ, phục hồi tài nguyên rừng
và sinh kế người dân. Phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường, thúc đẩy xã
hội hoá công tác bảo vệ môi trường. Chủ động ứng phó với thiên tai; bảo đảm an
ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước. Xử lý cơ bản ô nhiễm không khí, tắc
nghẽn giao thông, ngập úng tại một số thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh,... Cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, cụm công
nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn. Tăng cường ứng dụng khoa
học, công nghệ trong xử lý rác thải.
Bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái, nhất là sinh thái rừng,
sinh thái đất ngập nước, sinh thái biển, các khu bảo tồn thiên nhiên. Thực hiện
tốt quy hoạch không gian biển quốc gia, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu,
cơ chế quản lý tổng hợp về biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học,
công nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; nâng cao năng lực dự báo và
giám sát môi trường biển.
l) Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương
hoá, đa dạng hoá
Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc,
kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh
kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước,
an ninh lương thực...; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định
chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ
vững và củng cố môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Xây dựng thế trận bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội rộng khắp,
đa tầng trong hoạt động kinh tế; coi an ninh quốc gia là một động lực phát triển
kinh tế, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế, công nghệ, năng lượng và chuỗi cung
ứng.
Triển khai hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu
rộng, toàn diện, hiệu quả. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp
Quốc. Tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của
khu vực và quốc tế. Chú trọng việc phân tích, đánh giá dự báo tình hình quốc tế,
đề xuất các kịch bản ứng phó kịp thời, chủ động, nhất là đối với các tác động
trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2.2. Nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia
a) Quản lý, điều hành NSNN hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm
vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng
cơ sở thu, tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia. Triệt để tiết kiệm
chi thường xuyên, đặc biệt là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và
ngoài nước. Xây dựng mức bội chi NSNN hằng năm bảo đảm trong phạm vi mục tiêu
giai đoạn 2026-2030 và theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát
triển; thực hiện đánh giá hằng năm và giữa kỳ, kịp thời kiến nghị điều chỉnh mục
tiêu khi có biến động lớn, bảo đảm khả thi và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh
tế. Thực hiện giải pháp dự phòng để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia
trong phạm vi cân đối NSNN.
b) Xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa
thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu cho NSNN, hạn chế tối đa việc lồng
ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế, bảo đảm tính trung lập của hệ thống
thuế. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp
nhà nước, vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước, vừa không ảnh hưởng
lớn tới nguồn thu của NSNN.
c) Đối với chính sách đặc thù tài chính - NSNN của địa
phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các cơ chế, chính
sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định của pháp luật
về thuế, pháp luật khác về thu NSNN. Không quy định phân cấp nguồn thu NSNN, để
lại nguồn thu ngân sách trung ương khác với quy định của Luật NSNN, Kết luận số
93-KL/TW của Bộ Chính trị (trừ trường hợp theo chủ trương của cấp có thẩm quyền).
d) Từ năm 2027 cân đối vào NSNN một số nhiệm vụ an
ninh, quốc phòng đã được Bộ Chính trị phê duyệt, trước đây sử dụng từ nguồn hợp
pháp ngoài NSNN.
đ) Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, tận dụng tối
đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng
trụ sở, trung tâm hành chính mới tại các tỉnh, thành phố; các bộ, ngành, cơ
quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định, bảo đảm hiệu
quả sử dụng ngân sách nhà nước, không để ảnh hưởng đến các mục tiêu quan trọng
khác, chống lãng phí, tiêu cực.
e) Rà soát các vướng mắc trong đầu tư công, sớm tổng kết
và đánh giá nguồn lực đầu tư công, trên cơ sở đó nghiên cứu hợp nhất Luật Đầu
tư công với Luật NSNN.
2.3. Nhiệm vụ, giải pháp vay trả nợ công
Triển khai áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng
cường quản lý rủi ro nợ công, nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo
cáo thông tin nợ công, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng
tín nhiệm đầu tư. Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức vay, kỳ hạn
vay, thời điểm vay và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân
quỹ, góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho NSNN, đáp ứng nhu cầu
huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an
toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.
2.4. Nhiệm vụ, giải pháp đầu tư công trung hạn
a) Đối với ngân sách trung ương: Bố trí theo quy định
của Luật Đầu tư công, trong đó tập trung ưu tiên bố trí cho các Chương trình mục
tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội quyết định chủ trương
đầu tư, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương
trình hành động của Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV,
các dự án liên vùng của các địa phương. Dự phòng chung kế hoạch đầu tư công
trung hạn giai đoạn 2026-2030 là 10%; giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với
giai đoạn 2021-2025.
b) Đối với ngân sách địa phương: Địa phương chủ động
quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, phục vụ tốt nhất
các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa
bàn theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu
trách nhiệm". Quán triệt nguyên tắc bố trí vốn tập trung, không dàn trải,
giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025, ưu tiên bố trí
cho các dự án liên vùng, liên tỉnh, liên xã, có ý nghĩa quan trọng đối với phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bảo đảm bố trí đủ vốn ngân sách địa
phương tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án trọng điểm được
Trung ương hỗ trợ đầu tư trên địa bàn, bố trí đủ vốn ngân sách địa phương tham
gia các dự án sử dụng nhiều nguồn vốn theo cam kết.
c) Hoàn thành hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế-xã
hội làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư công. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đầu tư
công với đầu tư xã hội. Hợp tác, vay vốn nước ngoài, vốn trái phiếu dài hạn, vốn
của Nhân dân, doanh nghiệp, kết hợp với NSNN để triển khai các dự án lớn.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Quốc hội căn cứ Kết luận
này chỉ đạo hoàn chỉnh các Báo cáo, dự thảo Kế hoạch để trình Quốc hội xem xét,
quyết định; phối hợp chặt chẽ, kịp thời xem xét, điều chỉnh phù hợp khi có biến
động, ảnh hưởng lớn tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô và cân đối NSNN.
2. Các ban đảng Trung ương, bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ,
đảng uỷ bộ, ngành và địa phương trực tiếp chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch
cụ thể, tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả các mục tiêu đề ra; đôn đốc, kiểm
tra, giám sát và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.
3. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và thường xuyên tuyên truyền về việc triển khai, kết quả thực hiện Kết luận.
4. Đảng uỷ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Chính
sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, đôn đốc, đánh
giá kết quả thực hiện; định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả với Bộ Chính trị, Ban Bí
thư để chỉ đạo.
Toàn văn Kết luận số 18-KL/TW và các Phụ lục trong
file đính kèm: Kết luận số 18-KL/TW
Theo TTXVN
