Nghị định này quy định về kinh doanh xuất, nhập khẩu thóc, gạo các loại (gạo); hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh, gia công gạo cho nước ngoài; hoạt động xuất khẩu không vì mục đích thương mại, viện trợ, biếu, tặng gạo không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo
Theo quy định, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần
kinh tế, nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều
kiện kinh doanh xuất khẩu gạo (Giấy chứng nhận), có quyền được kinh doanh xuất
khẩu gạo theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài được cấp Giấy chứng nhận và thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo
theo quy định tại Nghị định này; theo các quy định khác có liên quan của pháp
luật Việt Nam và cam kết của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các
điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Nghị định nêu rõ chỉ thương nhân được cấp Giấy chứng nhận mới được nhận ủy thác xuất khẩu gạo.
Thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo bổ sung
vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh theo quy định,
được xuất khẩu các loại gạo này không phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh xuất khẩu gạo, không phải thực hiện dự trữ lưu thông theo quy định và
không thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định.
Thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo thông báo kế hoạch
nhập khẩu gạo với Bộ Công Thương.
Điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
Nghị định quy định thương nhân được thành lập, đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật được kinh doanh xuất khẩu gạo khi có ít
nhất 01 kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và 01 cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định
của pháp luật về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo
theo quy định ở trên có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc do thương nhân
thuê của tổ chức, cá nhân khác, có hợp đồng thuê bằng văn bản theo quy định của
pháp luật và đảm bảo thời hạn của Giấy chứng nhận.
Thương nhân có Giấy chứng nhận không được cho thương
nhân khác thuê để đề nghị cấp Giấy chứng nhận đối với các kho chuyên dùng để chứa
thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo đã được Bộ Công Thương cấp trong Giấy chứng nhận
cho thương nhân.
Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận cho thương nhân bản
giấy và bản điện tử (khi áp dụng) đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo
theo quy định.
Các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận
Bộ Công Thương xem xét, quyết định việc thu hồi Giấy
chứng nhận trong các trường hợp sau:
- Thương nhân được cấp Giấy chứng nhận đề nghị thu hồi;
- Thương nhân bị giải thể, phá sản theo quy định của
pháp luật;
- Thương nhân bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư;
- Thương nhân không đứng tên trên tờ khai hàng hóa xuất
khẩu là người xuất khẩu trong thời gian 12 tháng liên tục, trừ trường hợp
thương nhân đã thông báo tạm ngừng kinh doanh theo quy định của pháp luật;
- Thương nhân không duy trì đáp ứng điều kiện kinh
doanh theo quy định ở trên trong quá trình kinh doanh;
- Thương nhân kê khai không đúng thực tế kho chuyên
dùng để chứa thóc, gạo, cơ sở xay xát gạo hoặc có gian lận khác để được cấp Giấy
chứng nhận;
- Thương nhân không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng chỉ đạo, điều hành của cơ quan có thẩm quyền theo quy định;
- Trường hợp sau 45 ngày kể từ ngày Bộ Công Thương ban
hành văn bản đôn đốc thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo thực hiện trách nhiệm
báo cáo theo quy định mà Bộ Công Thương không nhận được báo cáo của thương
nhân;
- Thương nhân không duy trì mức dự trữ thóc, gạo theo
quy định;
- Theo đề xuất của cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Điều khoản chuyển tiếp
Nghị định số 365/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/10/2026.
Nghị định nêu rõ, thương nhân đã được cấp Giấy chứng
nhận theo quy định của Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ
về kinh doanh xuất khẩu gạo được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số
01/2025/NĐ-CP ngày 1/1/2025 của Chính phủ được tiếp tục hoạt động kinh doanh xuất
khẩu gạo theo thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đã được cấp, không phải đề
nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo quy định của Nghị định này, trừ trường hợp đề
nghị cấp lại, sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 7 Nghị định
này.
Trong vòng 45 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực
thi hành, thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo thực hiện đăng ký kế hoạch nhập
khẩu gạo với Bộ Công Thương theo quy định tại khoản 5 Điều 3 và Điều 22 Nghị định
này.
Đánh giá mức độ tín nhiệm của các thương nhân xuất khẩu
gạo theo quy định tại Điều 14 Nghị định này thực hiện từ ngày 1/1/2028.
Thương nhân có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã hoạt
động sản xuất, xuất khẩu gạo trước năm 2010 tiếp tục được hoạt động theo giấy
phép đã được cấp; tuân thủ quy định tại Nghị định này và các văn bản quy định
pháp luật có liên quan.
Thương nhân đã nộp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, sửa đổi,
bổ sung Giấy chứng nhận đầy đủ theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực
thi hành, Bộ Công Thương xem xét, cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận
cho thương nhân theo quy định của Nghị định số 107/2018/NĐ-CP.
Thời điểm nộp hồ sơ của thương nhân được tính theo
ngày gửi hồ sơ thể hiện trên dấu bưu điện (đối với trường hợp thương nhân gửi hồ
sơ qua đường bưu điện), ngày Bộ Công Thương nhận được hồ sơ trên Trang dịch vụ
công trực tuyến hoặc ngày thể hiện trên dấu tiếp nhận công văn đến của Bộ Công
Thương đối với trường hợp thương nhân nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Bộ Công
Thương.
Trong trường hợp quy định về an toàn thực phẩm, tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và cơ sở xay
xát gạo chưa được ban hành thì tiếp tục áp dụng theo quy định đã ban hành cho đến
khi quy định mới được ban hành có hiệu lực.
Theo BCP
