Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026- 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số".
Đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế "2 con số"
Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2026 - 2030, trong đó thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành
động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
"2 con số".
Cụ thể, các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán
bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách
thực hiện mục tiêu tăng trưởng"2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng
cao chất lượng đời sống Nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm,
phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ,
kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với
trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết
quả thực hiện. Tăng cường tuyên truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố
niềm tin, khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã
hội.
Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, giải phóng sức
sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển
Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu khác là hoàn thiện đồng bộ
thể chế phát triển, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động
lực mới cho phát triển.
Theo đó, xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù
hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền
kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn,
định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục, y
tế, văn hóa và khoa học công nghệ; làm cơ sở để thực hiện đặt hàng cho các đơn
vị trong và ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; tăng cường
kiểm tra, giám sát.
Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng
tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy
đánh giá hiệu quả pháp luật từ "tốt trong văn bản" sang "tốt
trong cuộc sống".
Tiếp tục có giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Nghiên
cứu, đề xuất các quy định nhằm bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, thống nhất
quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về
thể chế, cơ chế, chính sách; rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật
liên quan đến phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh
vực đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, sở hữu trí tuệ, phá sản, xây dựng...
góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cải cách mạnh mẽ, cắt giảm tối đa thủ tục
hành chính theo hướng công khai, minh bạch; cắt giảm, đơn giản hoá các điều kiện
kinh doanh không cần thiết, mâu thuẫn, chồng chéo, không rõ ràng; chuẩn hoá, số
hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ
dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người
dân, doanh nghiệp.
Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước
dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028. Xây dựng, điều
chỉnh các chiến lược và quy hoạch các cấp bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo điều
kiện cho huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả.
Tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng
bộ trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác
gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Tổng kết, đánh giá việc thực hiện thí điểm
các cơ chế, chính sách đặc thù đang áp dụng cho các địa phương để nghiên cứu,
thể chế hoá thành chính sách chung cho cả nước.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển
năng lượng, đặc biệt là trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng tái tạo. Xây dựng thể
chế thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu,
kinh tế không gian tầm thấp, kinh tế bạc, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh
tế chia sẻ, kinh tế ban đêm... Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phát
triển công nghệ tài chính (Fintech), tài sản mã hoá, trí tuệ nhân tạo (AI) và
các mô hình kinh tế mới nổi khác. Thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong
các lĩnh vực mới như công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng,
công nghệ số...
Xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực phát
triển các công trình hạ tầng chiến lược như: đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô
thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, trung
tâm dữ liệu quốc gia, các mô hình kinh tế đột phá gồm: Đặc khu kinh tế, đặc khu
công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế. Ban hành cơ chế,
chính sách giao, đặt hàng khu vực tư nhân tham gia vào các nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học trọng điểm, dự án, công trình, nhiệm vụ quan trọng quốc gia, phát triển
công nghiệp quốc phòng, an ninh.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mạnh kinh tế
nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần
hoàn; chính sách quản lý, sử dụng hợp lý, linh hoạt đất trồng lúa; cơ chế,
chính sách về đất đai, đầu tư, bảo hiểm, hợp tác công tư... cho phát triển kinh
tế nông nghiệp. Ưu tiên đầu tư, thử nghiệm, thí điểm các cơ chế, chính sách vượt
trội cho các mô hình sản xuất nông nghiệp dựa trên công nghệ cao, đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số làm động lực chính
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Thúc
đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo
đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, nợ công, bội chi ngân sách nhà nước trong
giới hạn quy định. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt
giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, bảo
đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số";
kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Chính phủ
chủ động điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế; tăng
cường huy động nguồn lực cho phát triển; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng
trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), phát triển mạnh mẽ các
ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới, động lực tăng trưởng mới. Quản lý thị trường
bất động sản phát triển lành mạnh, minh bạch, bền vững, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
nhà ở của người dân.
Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, tăng chi cho đầu tư phát triển, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên; tạo đột phá mạnh về cơ chế, chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực theo các mô hình hợp tác công - tư.
Thực hiện quyết liệt các giải pháp phát triển thị trường
chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ổn định, an toàn, lành mạnh, trở
thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả phục vụ tăng trưởng hai con số,
giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng; triển khai các giải pháp để nâng xếp
hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán; ban hành các cơ chế,
chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài
chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián
tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức,
phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại
theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của
ngân hàng chính sách xã hội; mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề
không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng;
đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo; nâng cao chất lượng,
hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống; tăng vốn điều lệ cho các
ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: lợi nhuận sau thuế và trích lập các
quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước... theo quy định của pháp luật và
phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển lành mạnh và đa dạng hoá
các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu
tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tể tập thể. Nâng cao hiệu quả
quản lý thị trường vàng.
Xây dựng và hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững
mạnh. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đột phá, đồng
bộ để phát triển, nâng cao sức cạnh tranh các ngành công nghiệp nền tảng, công
nghiệp mũi nhọn, phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm.
Nâng cao năng lực sản xuất các ngành công nghiệp chiến
lược, tiến tới tự chủ, tự cường về nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, nguồn
nhân lực và khoa học công nghệ gắn với tăng cường vị thế, vai trò của Việt Nam
trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số
ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim,
vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hoá chất, công nghệ số, sinh học,
công nghiệp hỗ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất
trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chip bán dẫn, công nghiệp
robot và tự động hoá, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghiệp sinh học,
công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng mới... Phát triển các cụm
liên kết ngành công nghiệp chuyên môn hoá và các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn.
Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hoá hệ
sinh thái dịch vụ, phát triển một số ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh
tranh, hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị tăng cao. Xây dựng, phát triển
các trung tâm logistics lớn, đạt chuẩn quốc tế, gắn kết chặt chẽ với cảng biển,
cảng hàng không trung chuyển quốc tế. Hiện đại hoá hệ thống hạ tầng thương mại,
phát triển thương mại điện tử.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo
hướng đẩy mạnh chuyển đổi xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu
quả; phát triển các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao; phát triển
thương hiệu các ngành hàng nông sản chiến lược, chủ lực. Tổ chức sản xuất kinh
doanh theo chuỗi giá trị gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển
đổi số; phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông
thôn mới.
Nghiên cứu đổi mới căn bản chính sách về hạn mức đất
lúa theo hướng chuyển từ quy định cứng về diện tích tối thiểu sang quy định
linh hoạt chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng phải quản lý chặt
chẽ việc chuyển đổi, tránh áp dụng tùy tiện, bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với
triển khai hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị. Đổi mới kinh tế nhà nước,
trọng tâm là quản trị doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường
hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực
quan trọng; tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp,
bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí. Chú trọng phát triển các tập
đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và
toàn cầu.
Phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Có chính sách phù hợp, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Xây dựng, triển khai các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực tài chính, công nghệ, quản trị cho doanh nghiệp trong nước để hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng, tham gia thị trường toàn cầu; chú trọng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.
Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và
vươn ra thị trường quốc tế hiệu quả, bền vững để mở rộng không gian tăng trưởng,
nâng cao vị thế và thương hiệu quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế. Thúc đẩy
phát triển các doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển các ngành công nghệ cao,
công nghiệp mới nổi.
Xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút có chọn lọc vốn đầu
tư nước ngoài gắn với chuyển giao, học hỏi và tiếp thu công nghệ, nâng cao năng
lực nội sinh về công nghệ; tăng cường kết nối khu vực kinh tế có vốn nước ngoài
với các khu vực kinh tế của Việt Nam. Đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng
chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi
sau - ưu đãi theo kết quả; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài. Xây dựng cơ chế,
chính sách hỗ trợ, thu hút nguồn lực, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số,
mở rộng thị trường cho kinh tế tập thể, hợp tác xã. Vận hành hiệu quả Trung tâm
tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Thành lập, phát triển
các khu thương mại tự do thế hệ mới có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa
quan trọng cho tăng trưởng; chuyển dịch mạnh mẽ sang các loại hình phân phối hiện
đại. Tổ chức các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, thực chất, hiệu quả.
Phát triển hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch chất lượng cao, du lịch số; kết hợp
thúc đẩy du lịch quốc tế với các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ, mua sắm hàng
hoá; xây dựng và triển khai thực hiện các giải pháp đột phá phát triển du lịch
để thu hút 45 - 50 triệu lượt khách du lịch quốc tế vào năm 2030.
Mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, chuỗi
cung ứng, tận dụng có hiệu quả các FTA đã ký kết, phát triển các thị trường mới;
ưu tiên xuất khẩu các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng, đổi mới sáng tạo, tiêu
chuẩn xanh, tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG); tham gia sâu vào
chuỗi cung ứng chiến lược của các nước.
Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hiện
đại hoá nền giáo dục quốc dân, ngang tầm khu vực và thế giới; thu hút, trọng dụng
nhân tài
Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực,
ngành, nghề trọng điểm, chiến lược, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động gắn với
yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hội nhập trong bối cảnh mới. Đổi mới và
hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao
trong các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ và phục vụ các chương trình, dự án chiến
lược, trọng điểm quốc gia; phát triển hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
chất lượng cao. Đặt hàng các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
và doanh nghiệp công nghệ tham gia đào tạo nghề.
Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia hiện
đại hoá, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Tăng cường dạy và học ngoại ngữ,
nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, đưa tiếng Anh trở thành
ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đổi mới Chương trình giáo dục mầm non và triển
khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi theo lộ trình. Đẩy mạnh
phương thức giáo dục tích hợp Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ, Nghệ thuật, Toán học
(STEAM) và nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số trong trường phổ thông.
Tăng cường đào tạo, trang bị kiến thức cơ bản về văn hoá, nghệ thuật và tăng cường
hoạt động thể dục, thể thao, nâng cao thể chất cho học sinh.
Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá và tập trung đầu
tư phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trở thành các trung tâm khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia ngang tầm các nước tiên tiến; hiện đại
hóa giáo dục đại học, phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng
nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
ngang tầm các nước tiên tiến. Phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp,
ngành, nghề đào tạo đạt trình độ tương đương với khu vực và thế giới. Đưa giáo
dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương
trình giáo dục mầm non; chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ
công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phát triển
và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục.
Đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, đặc
biệt chú trọng đội ngũ cán bộ quản lý và nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn
về khoa học công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu
tiên, mới nổi (như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, chuỗi khối, điện tử, chip
bán dẫn, công nghệ số, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, môi trường, năng
lượng, vật liệu tiên tiến, robot và tự động hoá, không gian vũ trụ, không gian
biển, xây dựng công trình ngầm, vận hành đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ
cao). Phát triển nguồn nhân lực số, trang bị kỹ năng số toàn diện cho người lao
động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và xã hội số.
Có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc
biệt khó khăn, các đối tượng chính sách.
Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số quốc gia
Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn
đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao. Khẩn trương hoàn thiện thể chế,
cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro
có kiểm soát, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, đầu tư, cơ chế cho
các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ.
Xây dựng và triển khai các khung khổ pháp lý, cơ chế,
chính sách thử nghiệm, thí điểm vượt trội trong khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số trong doanh nghiệp gắn với khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao,
công nghệ chiến lược.
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện và khai thác hiệu quả hạ
tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu
lớn. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, làm chủ và xây dựng các
cơ sở nghiên cứu, phát triển các ngành công nghệ cao, chiến lược, công nghệ
lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số, công nghệ sinh học; từng bước tham gia sâu
vào chuỗi giá trị công nghệ cao. Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng
ứng dụng, làm chủ về công nghệ, nhất là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm
năng và lợi thế.
Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm,
các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, ưu tiên cho công nghệ chiến lược. Xây
dựng các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học mang tính đột phá, tập trung
vào các nhóm ngành công nghệ chiến lược. Phát triển hạ tầng công nghiệp công
nghệ số, trọng tâm là công nghiệp điện tử, công nghiệp bán dẫn.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thu hút, trọng
dụng nhân tài, các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, các “tổng công trình sư”
đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số quốc gia. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách thu hút nhân
tài, chuyên gia trong và ngoài nước. Tăng cường hợp tác công tư trong thu hút,
đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Xây dựng,
kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các phòng thí nghiệm bán dẫn dùng chung cấp quốc gia
và phòng thí nghiệm bán dẫn cấp cơ sở tại các cơ sở giáo dục đại học.
Thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã
hội; phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; tập trung số
hoá toàn diện hoạt động quản lý nhà nước và triển khai hiệu quả Đề án 06. Có cơ
chế, chính sách đột phá thúc đẩy chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an
toàn, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Ứng dụng các công nghệ số, trí tuệ nhân tạo
trong công tác quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước; phát triển mạnh trợ
lý ảo cho doanh nghiệp và người dân. Quản lý, thúc đẩy phát triển tài sản số,
tiền kỹ thuật số lành mạnh và hiệu quả. Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
trong toàn xã hội; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái
khởi nghiệp sáng tạo.
Nhiệm vụ, giải pháp về tài chính quốc gia
Về nhiệm vụ, giải pháp tài chính quốc gia, quản lý, điều
hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân
sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền
vững của nền tài chính quốc gia. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đặc biệt
là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước. Xây dựng mức bội
chi ngân sách nhà nước hằng năm bảo đảm trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026 -
2030 và theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát triển; thực hiện
đánh giá hằng năm và giữa kỳ, kịp thời kiến nghị điều chỉnh mục tiêu khi có biến
động lớn, bảo đảm khả thi và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Thực hiện giải
pháp dự phòng để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia trong phạm vi cân
đối ngân sách nhà nước.
Xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa thúc đẩy
tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hạn chế tối đa việc lồng
ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế, bảo đảm tính trung lập của hệ thống
thuế. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lợi nhuận sau thuế của khu vực doanh nghiệp
nhà nước, vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước, vừa không ảnh hưởng
lớn tới nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Đối với chính sách đặc thù tài chính - ngân sách nhà
nước của địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; không ban hành các
cơ chế, chính sách, quy định đặc thù về miễn, giảm, ưu đãi thuế cao hơn quy định
của pháp luật về thuế, pháp luật khác về thu ngân sách nhà nước. Không quy định
phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước, để lại nguồn thu ngân sách trung ương
khác với quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ
Chính trị (trừ trường hợp theo chủ trương của cấp có thẩm quyền).
Từ năm 2027 cân đối vào ngân sách nhà nước một số nhiệm
vụ an ninh, quốc phòng đã được Bộ Chính trị phê duyệt, trước đây sử dụng từ nguồn
hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước.
Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, tận dụng tối
đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng
trụ sở, trung tâm hành chính mới tại các tỉnh, thành phố; các bộ, ngành, cơ
quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định, bảo đảm hiệu
quả sử dụng ngân sách nhà nước, không để ảnh hưởng đến các mục tiêu quan trọng
khác, chống lãng phí, tiêu cực.
Rà soát các vướng mắc trong đầu tư công, sớm tổng kết
và đánh giá nguồn lực đầu tư công, trên cơ sở đó nghiên cứu hợp nhất Luật Đầu
tư công với Luật ngân sách nhà nước.
Phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng
tín nhiệm đầu tư
Về nhiệm vụ, giải pháp về vay, trả nợ công, triển khai
áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro nợ công, nâng
cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo thông tin nợ công, phấn đấu
đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Chủ động điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức
vay, kỳ hạn vay, thời điểm vay và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản
lý ngân quỹ, góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà
nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận
lợi, bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.
Nhiệm vụ, giải pháp về đầu tư công trung hạn
Về nhiệm vụ, giải pháp về đầu tư công trung hạn, đối với
ngân sách trung ương, bố trí theo quy định của Luật Đầu tư công, trong đó tập
trung ưu tiên bố trí cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng
quốc gia đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, các nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của trung
ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án liên vùng của các
địa phương. Dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030
là 10%; giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025.
Đối với ngân sách địa phương, địa phương chủ động quyết
định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, phục vụ tốt nhất các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn
theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách
nhiệm". Quán triệt nguyên tắc bố trí vốn tập trung, không dàn trải, giảm số
lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021 - 2025, ưu tiên bố trí cho các
dự án liên vùng, liên tỉnh, liên xã, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương. Bảo đảm bố trí đủ vốn ngân sách địa phương
tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án trọng điểm được trung
ương hỗ trợ đầu tư trên địa bàn, bố trí đủ vốn ngân sách địa phương tham gia
các dự án sử dụng nhiều nguồn vốn theo cam kết.
Hoàn thành hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội
làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư công. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đầu tư công
với đầu tư xã hội. Hợp tác, vay vốn nước ngoài, vốn trái phiếu dài hạn, vốn của
Nhân dân, doanh nghiệp, kết hợp với ngân sách nhà nước để triển khai các dự án
lớn.
Nghị quyết 109/NQ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày
16/4/2026 và thay thế Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 11/3/2026 của Chính phủ về
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV của Đảng.
Các nội dung đã thực hiện theo Nghị quyết số 41/NQ-CP
ngày 11/3/2026 của Chính phủ tiếp tục được triển khai thực hiện và cập nhật
theo Chương trình hành động ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Theo BCP
